Trong số ra ngày 14/04/2009, tuần tạp chí Respekt có bài viết nhan đề “Kdo nezmizí včas, zažije saigon” của tác giả Michal Komárek mà có thể tạm dịch là “Ai không biến nhanh sẽ vào địa ngục”. Hãy thử nghiệm xem, tránh mãi có được không?

Những năm gần đây, CH Séc đã khuyến khích nhân công nước ngoài đến làm việc, còn hiện nay thì muốn họ biến đi càng nhanh càng tốt. Trong thời gian qua, thông tin về những cuộc tảo thanh lớn của cảnh sát ngoại kiều nhằm vào người nước ngoài để tìm những đối tượng sống bất hợp pháp liên tục được truyền thông tưng bừng lan truyền. Theo dự tính, có đến hàng trăm nghìn người nước ngoài hiện nay đang không có công ăn việc làm hợp pháp, nghĩa là quyền cư trú cũng không có. Và để săn lùng và xua đuổi được, thì đây sẽ là một trong những chiến dịch lớn nhất của cảnh sát và các cơ quan hành chính trong lůịch sử của CH Séc.

 Trong khuôn khổ chiến dịch mang tên Prostor 04, cảnh sát ngoại kiều đã tràn đến xí nghiệp Remodel ở Teplice. Chỉ cần chợt thấy bóng cảnh sát, những công nhân Việt Nam đang làm việc lập tức bỏ chạy tán loạn, lẩn trốn vào tất cả mọi nơi có thể. Trong khi đó, ngoài những sai phạm vặt vãnh, còn tất cả đều có giấy tờ hoàn toàn hợp lệ.

 Theo phát ngôn viên cảnh sát ngoại kiều tỉnh Bắc Séc Miroslav Vlach, thì những phản ứng như vậy của người Việt Nam không có gì là quá đặc biệt và quá bất ngờ. “Họ rất sợ bị trục xuất và từ tất cả những cái đó làm họ trở nên ngu đần – họ không chắc chắn là liệu mọi thứ có ổn thoả cả hay không, trong khi họ muốn ở lại đây bằng mọi giá. Không phải tất cả họ đều là những kẻ đểu cáng, chỉ có điều là tất cả đều kinh hoàng lo sợ,” phát ngôn viên cảnh sát tuyên bố.

 Vì sao mà tất cả công nhân Việt Nam phải là ‘bọn đểu cáng’?- hoàn toàn không có lời giải thích.



Chiến dịch mang tên Prostor 04. Photo Denik


  Bước đầu là tự nguyện…

Từ trung tuần tháng hai, cái chương trình gọi là Hồi hương tự nguyện bắt đầu được thực hiện.

 Vài năm trước đây, khi kinh tế phát triển, khoảng hai chục nghìn công nhân Việt Nam, vài nghìn người Mông Cổ, đã được nhập khẩu vào các “dây chuyền lắp ráp” tại những khu công nghiệp. Cùng với Ukraina, Ba Lan, Slovakia, công nhân ngoại quốc trong nhiều nhà máy đã hình thành bộ phận nhân công đa số.

 Nhưng tình thế đã có những thay đổi vô cùng bất ngờ và công nhân ngoại quốc chỉ ngày một ngày hai bỗng trở thành những kẻ như không mời mà đến. Và cả xã hội Séc nhận được lời cảnh báo chung: Cẩn thận đấy! Nếu người ngoại quốc ở lại, thì tình hình không những chỉ thêm khó khăn, mà là cả hiểm hoạ, rằng bọn họ có thể trở thành những kẻ tội phạm.

 Cái chương trình Hồi hương tự nguyện do Bộ trưởng Nội vụ đẻ ra mới nhìn thì chẳng có gì đáng trách. Nhưng nó có hai hạt sạn lớn. Thứ nhất, chỉ có một nhóm người ngoại quốc rất nhỏ có thể tự ra về- hai đến năm nghìn người trong tổng số hàng trăm nghìn. Điều thứ hai nguy hiểm hơn: Chương trình Hồi hương tự nguyện đầy nhân đạo này có thể chỉ là bước chuẩn bị cho cú đánh mạnh liệt nhằm vào những người còn ở lại.

 Hơn nữa, ngay từ trước khi chương trình này được phát động, nhiều chuyên viên từ các tổ chức phi chính phủ và từ cộng đồng người Việt Nam đã khẳng định, rằng người Việt Nam sẽ không quan tâm đến chương trình này. Thực tiễn đã khẳng định điều đó. Đa số chỉ có người Mông Cổ tham gia chương trình Hồi hương tự nguyện, còn Việt Nam chỉ có một số trường hợp cá biệt. Lí do vô cùng giản dị và đã được nói đi nói lại nhiều lần- họ phải gánh chịu những món nợ khổng lồ để đến được đây, và bằng mọi giá phải làm gì đó để có tiền trả nợ. Cho mình, xong nhiều khi là cho cả dòng họ. Họ không còn con đường nào khác. Có thể nói không ngoa, rằng ở lại đây và tìm kiếm việc làm bằng mọi giá có thể là câu hỏi của sự sống còn.

 Điều này trước đây ai cũng biết. Trong thời kỳ thịnh vượng, thì nó được bỏ qua, dĩ nhiên là cả Bộ Nội vụ. Còn bây giờ, thì chắc chắn là Bộ Nội vụ sẽ thực hiện kế hoạch khác đối phó với người Việt Nam. „Đó chỉ là vở kịch cho công chúng. Bộ Nội vụ đang dựng cho mình bằng cớ ngoại phạm, để sau đó có thể thẳng tay dùng những biện pháp rất cứng rắn,” luật sư Marek Sedlák, đang đại diện pháp lí cho rất nhiều người Việt Nam ở CH Séc, tuyên bố và giải thích, rằng cảnh sát muốn nói với công luận là đã cho người Việt Nam cơ hội, những người tử tế đã ra đi, còn với những kẻ cố tình ở lại thì không còn cách nào khác phải làm mạnh tay.



Những người nước ngoài chờ thủ tục hồi hương tại Plzen. Photo TN.cz

…sau đó là cưỡng bức

Thực ra thì nó đã diễn ra rồi. Bộ trưởng Nội vụ Ivan Langer và cả cảnh sát nói đến như một biện pháp phòng ngừa: trên toàn lãnh thổ đã liên tiếp thực hiện các chiến dịch kiểm tra rộng lớn của cảnh sát ngoại kiều. Kiểm tra triệt để người nước ngoài tại bất kỳ nơi nào có thể. Và cảnh sát thường kéo theo cả phóng viên báo chí truyền hình cùng đi, để rồi hàng triệu khán giả có thể nhìn thấy cảnh những người ngoại quốc hoảng loạn, khi bị dựng cổ dậy trong nhà trọ đang trần trụi xuất trình giấy tờ tuỳ thân cho cảnh sát (như ảnh bên). Tất cả những hành động đó như đang miêu tả lại đúng đến từng chữ tệ nạn ma cũ bắt nạt ma mới từng xảy ra trong các doanh trại quân đội hồi thập kỷ 80, được gọi lóng bằng từ mật mã SAIGON. Còn hiện nay, trên báo chí truyền thông người ta có thể đọc thấy những cái mật mã Prostor 04, Doprovod, v.v. và v.v…về những chiến dịch của cảnh sát sử dụng đúng chiến thuật đểu cáng của cái gọi là Saigon trước đây.

Hiệu quả của các chiến dịch, khi mà hàng nghìn người ngoại quốc đàng hoàng tử tế bị cảnh sát quấy rối mọi lúc mọi nơi này là thường là vài người có vấn đề về cư trú và lập biên bản để tiếp tục xử lí. Mặc dù vậy, phía cảnh sát ngoại kiều theo lời của phát ngôn nhân Kateřina Rendlová, vẫn coi đây là những chiến dịch có hiệu quả, hơn nữa chi phí không có gì đặc biệt, bởi tất cả nhân viên cảnh sát tham gia đều trong khuôn khổ nhiệm vụ thông thường.

 Rõ ràng hiệu quả của các chiến dịch này còn nhiều tranh cãi, mà theo nhiều người thì đó chỉ là hình thức biểu dương lực lượng hay chiến dịch đe doạ. Và hơn nữa, nó chủ yếu nhằm vào người Việt Nam, thậm chí người ta còn nói đến cái chỉ thị đặc biệt của Cục trưởng cảnh sát ngoại kiều yêu cầu thực hiện những biện pháp riêng biệt đối với người Việt Nam. Rendlová cực lực phủ nhận, nhưng trên thực tế, thì rõ ràng biện pháp đặc biệt đối với người Việt Nam đã được cảnh sát áp dụng.

 Cách đây chưa lâu, Bộ trưởng Nội vụ Ivan Langer liên tục đưa ra những tuyên bố, như người Việt Nam nhận được chỉ thị khuyên không nên rời khỏi CH Séc, và rằng Việt Nam có chính sách xây dựng dân tộc thiểu số ở đây. Trong hoàn cảnh khủng hoảng hiện nay và nỗ lực đẩy người ngoại quốc hồi hương, thì điều duy nhất nghĩa là: đối với người Việt Nam, thì chỉ có cách duy nhất là không khoan nhượng. Đó sẽ là cuộc chiến thực sự.

 Theo luật sư Marek Sedlák, thì cảnh sát đã hành động theo tinh thần này. “Họ cảm thấy được bao che từ những vị trí cao nhất, họ có cảm giác an toàn,” Marek Sedlák khẳng định. “Và hơn nữa, người Việt Nam không được bất kỳ ai bảo vệ, họ hốt hoảng và nỗi sợ hãi mỗi khi nhìn thấy cảnh sát đã ám ảnh từ ở quê nhà. Những trường hợp dám can đảm khiếu nại là vô cùng hãn hữu,” Luật sư Sedlák nói và kể về trường hợp một phụ nữ Việt Nam: “Cảnh sát nắm cổ bà ta lôi từ trong cửa hàng sang căn hộ ở bên kia đường lấy giấy tờ để kiểm tra. Tất cả đều hợp lệ, nhưng vẫn đến hỏi lại luật sư cho chắc chắn. Còn chuyện khiếu nại thì bà ta không hề nghĩ đến”.

Chuyên về người Việt Nam sợ hãi nhiều khi vô căn cứ kể mãi không hết. Hiếm khi xảy ra trường hợp như những cô sinh viên trẻ tại Brno. Phòng trọ của các cô bị cảnh sát ngoại kiều chẳng có lí do gì rõ ràng liên tục đến kiểm tra. Ngoài giấy tờ tuỳ thân nghe đâu cảnh sát còn chụp cả ảnh và doạ dẫm, là đằng nào rồi cũng sẽ bị về nước. “Trong lần kiểm tra cuối cùng, các cô đã cự lại và cảnh sát doạ còng tay đưa về đồn, các cô sinh viên đã chìa tay ra và tuyên bố sẽ khiếu nại. Cảnh sát chùn bước,” Sedlák kể lại.

Thân chủ khác của luật sư Marek Sedlák (ảnh trên) là chủ một nhà trọ ở Napajedlý- cảnh sát thường xuyên đến cái nhà trọ này kèm theo cả chó. “Ông ta mất hết kiên nhẫn, khi mà hai gia đình Việt Nam dọn đi với lí do, là không còn muốn để con cái họ cứ phải chứng kiến mãi cái cảnh chó săn và cảnh sát bịt mặt lục lọi,” vị luật sư nhớ lại. “Ông ta mắc trong nhà trọ hệ thống camera và ghi lại hình ảnh cảnh sát bới móc tủ, đồ tư trang của người Việt Nam.” Và kết quả thì sao? Cảnh sát sẽ truy tố chủ nhà trọ vì đã ghi hình trái phép khi cảnh sát làm nhiệm vụ. Còn thiếu xót thì hoàn toàn phủ nhận- hoạt động của cảnh sát ngoại kiều hiện đang được Thanh tra Bộ Nội vụ điều tra, nhưng phát ngôn viên Rendlová thì vẫn khẳng định, rằng có những lí do nghiêm túc để phải thường xuyên kiểm tra- ví dụ không tuân thủ các qui định về phòng hoả.

 Đó chỉ là những chi tiết, nhưng những thông tin về việc doạ dẫm hay đối xử tồi của cảnh sát với người Việt Nam được nhiều người khác nữa đưa ra và không chỉ người Việt Nam khẳng định như vậy, mà cả từ các tổ chức phi chính phủ. Hình ảnh vụ tổng kiểm tra năm ngoái tại chợ trời SAPA của người Việt Nam vẫn còn rất nóng hổi, khi mà sự tham gia của cả trực thăng lẫn chiến xa cứ ngỡ như một hoạt động quân sự. Hay vụ mới đây, khi cảnh sát đánh đến chết một người Việt Nam 43 tuổi trong lúc khám nhà với lí do (mà sau đó được thực tế khẳng định là vớ vẩn) tình nghi tàng trữ ma tuý- đã đánh đập, chẹn cổ.

 “Tôi chẳng phải là một nhà hoạt động gì cả, đơn giản là tình cờ tôi tiếp xúc được với một số đại diện người Việt Nam,” Sedlák nói thêm. “Và tôi cảm thấy rùng mình. Nếu tôi hình dung cái lệnh đặc biệt về cách thức đối xử với người Việt Nam, và cho thêm vào đó chữ Do Thái, thì tôi phải nói, rằng liệu chúng ta có ý thức được chuyện gì hiện đang xảy ra ở đất nước này.”

 Chỉ một điều duy nhất rõ ràng: hành động tấn công của cảnh sát mới chỉ là khởi đầu.

Tất cả là tự họ gây ra

Cái Cục tị nạn và chính sách di trú của Bộ Nội vụ là cơ quan bày trò nhiều nhất của chính sách này. Viên Cục trưởng Tomáš Haišman cực lực phủ nhận bất kỳ biện pháp trấn áp đặc biệt nào được áp dụng riêng với người Việt Nam. Nhưng đồng thời cũng thú nhận, rằng người Việt Nam gây ra những phiền toái nhất định. “Hết sức khó khăn đối thoại với họ, và trước hết, là họ muốn ở lại đây bằng mọi giá,” viên Cục trưởng giải thích. “Dĩ nhiên là khi mất việc làm, chắc chắn là họ nên lập tức chấp nhận, rằng kế hoạch của họ đơn giản là đã thất bại. Rằng ở đây họ đã không còn có cơ hội để kiếm tiền cải thiện cuộc sống và trả nợ. Và nên phải hồi hương. Bởi nếu không họ sẽ tiếp tục lún sâu hơn nữa vào khủng hoảng xã hội. Và chúng ta phải tính đến khả năng, rằng họ sẽ trở thành những hiểm hoạ an ninh.”

 Thế nhưng con đường hồi hương của nhiều người Việt Nam bị cản trở bởi những món nợ đã được nhắc tới kia. Và còn thêm một phiền phức khác nữa: đa số họ có giấy phép cư trú dựa trên cơ sở thị thực kinh doanh, vì thế cho nên kể cả khi bị mất việc làm, vẫn có thể ở lại hợp pháp. Và đây là cái cơ sở của vấn đề: vì sao lại có thể để xảy ra chuyện, các cơ quan công quyền CH Séc bao năm qua chỉ ngồi nhìn hàng nghìn người Việt Nam nợ nần đầm đìa sang đây tìm việc làm, cấp cho họ thị thực với mục đích kinh doanh và không có biện pháp hiệu quả nào can thiệp vào hoạt động của các trung tâm môi giới nhân lực.

 Tomáš Haišman có cách giải thích nước đôi. Thế nhưng cũng chẳng có cách nào thuyết phục, rằng cái nhà nước này đã xây dựng được một chính sách di trú minh bạch. Theo Haišman, thì đúng là nhiều năm qua Bộ Nội vụ đã biết về phức tạp này, thế nhưng nó đã không đủ năng lực áp dụng những thay đổi trong cung cách giải quyết cấp thị thực, và cả giám sát cụ thể các trung tâm môi giới. “Bộ Công- Thương luôn bênh vực loại thị thực kinh doanh trong cái khẩu hiệu gọi là tự do kinh doanh và chủ nghĩa tự do. Đã khuyến khích tình hình chuyển nhân lực vào các nhà máy mới, nhất là trong thời gian bùng nổ đầu tư nước ngoài. Hàng chục năm chúng tôi đã cố gắng đạt được những xửa đổi, thế nhưng thẩm quyền của chúng tôi chỉ có giới hạn,” viên Cục trưởng Haišman lí lẽ. Còn chuyện cấp giấy phép hoạt động cho các trung tâm môi giới nhân sự lại nằm trong phạm vi quản lí của Bộ Lao động và các vấn đề xã hội và bắt đầu từ năm nay thì Bộ Nội vụ mới có tiếng nói trong quá trình xét duyệt cấp phép này.

Vấn đề thứ hai, theo Tomáš Haišman là chính sách của nhà nước Việt Nam. “Việt Nam có chính sách nhà nước về di trú và kể cả trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay vẫn liên tục gửi tín hiệu đến cho người của mình ở Séc: các bạn hãy ở lại đó, cộng đồng sẽ chăm sóc tới các bạn,” công chức có trách nhiệm về chính sách di trú của nhà nước Séc này khẳng định lại luận điệu của Ivan Langer. Thậm chí cái chuyện Việt Nam “xuất khẩu” người là để giải quyết tình trạng thất nghiệp và chính sách xã hội thiếu hụt của mình đã từng được cả một số nhà chuyên môn nói đến. Tomáš Haišman còn nói thêm, rằng hiện nay phía Việt Nam vẫn cự tuyệt bất cứ việc cộng tác nào và cương quyết không đồng tình với chương trình hồi hương tự nguyện.

 Và thế là chúng ta lại trở về chỗ đầu tiên: trong thời kỳ kinh tế phồn thịnh thì phía Séc chấp nhận chính sách này và nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng nó đã diễn ra trong điều kiện như thế nào. Giờ thì chúng ta chợt bừng tỉnh và gửi đến những người Việt Nam lời nhắn của mình: chính tự các vị gây ra. Chúng tôi không cần đến các vị nữa, đi về đi. Tạm thời vẫn còn là nói tử tế.

 Bộ trưởng Nội vụ Ivan Langer nói về chuyện kết hợp biện pháp ngăn chặn của chương trình hồi hương tự nguyện và biện pháp cưỡng bức tiếp theo. “Trong khuôn khổ của chương trình chúng tôi sẽ tăng cường biện pháp mạnh. Mỗi người ngoại quốc có thể lựa chọn, vì họ có cơ hội. Hoặc là tận dụng bàn tay giúp đỡ, hay là bàn tay pháp luật sẽ đụng đến.”


Có cái gì đó đang diễn ra

Đúng là Bộ Công- Thương không nặng đầu với chính sách di trú. Theo bộ này thì nó diễn ra hoàn toàn bình thường phản ứng lại với các biến động của kinh tế. “Phát triển hay suy thoái kinh tế bao giờ cũng kèm theo làn sóng di trú, là hậu quả rất đỗi hợp lí và tự nhiên của nhu cầu tăng lên hay giảm đi về sức lao động,” phát ngôn viên Bộ Công- Thương Tomáš Bartovský (Ảnh bên) giải thích. Theo lời nhân vật này, thì không thể chờ đợi nhà nước sẽ phát minh ra một cái chương trình đặc biệt nào đó để nhằm giữ nhân công ngoại quốc khi không có nhu cầu.

 Trong khi đó, bộ này tính đến chuyện, là sau khi vượt qua khủng hoảng, thì nguồn nhân công ngoại quốc sẽ lại trở nên cần thiết. Còn liệu có biện pháp nào hiệu quả thì không cần phải quan tâm- đơn giản là người ngoại quốc sẽ tự đến khi nào chúng ta cần, và lại ra đi khi mà nhu cầu không còn nữa.

 Nó rất đơn giản và nghe cũng có vẻ hợp lí, thế nhưng những biện pháp cưỡng bức như kiểu của cảnh sát sẽ không mang lại bất cứ phương án giải quyết vấn đề nào. Và theo các nhà chuyên môn từ nhiều tổ chức phi chính phủ, thì đúng là nhà nước Séc vẫn thiếu những phương án như vậy.

 “Tự thân biện pháp cưỡng bức không giải quyết được điều gì cả. Bởi chúng ta phải tính đến thực tế, là những con người này đã hiện diện ở đây, đã bị nợ nần và không muốn ra đi,” Pavel Čižinský giải thích. “Và hơn nữa ở đây vẫn còn tương đối nhiều cơ hội làm việc cho họ. Cho nên bước đầu tiên cần phải phối hợp đề nghị hồi hương với đề xuất hỗ trợ chờ đợi ở đây cho thời kỳ khó khăn qua đi, cho họ có cơ hội tìm công việc mới.”

 Những năm qua, Čižinský và nhiều nhà chuyên môn đã nhắc đi nhắc lại: luật di trú của chúng ta quá mức rắc rối, trên thị trường lao động, người ngoại quốc nằm ở vị thế công dân hạng hai, nhà nước cho phép các trung tâm môi giới lao động tự do lũng đoạn, bóc lột và đẩy người ngoại quốc vào tình cảnh không lối thoát. Hướng khắc phục cơ bản là phải cho người di trú nhiều quyền lợi hơn chứ không phải đối xử với họ như kẻ thù. Hiện nay mặc dù người ngoại quốc đóng thuế, bảo hiểm xã hội, y tế, thế nhưng họ lại ví dụ không có quyền lợi hưởng bất cứ khoản trợ cấp xã hội nào để có thể giúp họ vượt qua giai đoạn không có việc làm. Họ chỉ có hai tháng để đi tìm chỗ làm mới, sau thời gian đó thì giấy phép cư trú sẽ bị mất hiệu lực. “Nếu như họ có quyền lợi bình thường và ít bị phụ thuộc vào người chủ thuê mình và trước khi sang đây không bị buộc phải vay mượn, thì ở đây có thể hoạt động cái mô hình, là họ sẽ đến và ở lại đây căn cứ theo tình thế liệu có tìm được cơ hội làm việc hay không. Nhưng dĩ nhiên đó là một chặng đường dài và bằng biện pháp cưỡng bức không làm cho nó nhanh lên được,” Čižinský nói thêm.

Và hiện nay trong cuộc chơi này có một vấn đề trọng tâm. “Nhà nước đưa ra tín hiệu bài ngoại rõ ràng. Người ngoại quốc bị đẩy vào vai diễn là những phần tử nguy hiểm và cảnh sát phải bảo vệ chúng ta trước đám người này,” cô Pavla Burdová Hradečná từ tổ chức Cố vấn cho người tị nạn bình luận. “Và điều này là vô cùng nguy hiểm, bởi tất nhiên là nó kích thích tâm lí bài ngoại trong xã hội.”

 Và rất khó có thể tìm đối trọng. Hàng loạt các tổ chức phi chính phủ quan tâm đến vấn đề di trú đang hầu như cạn kiệt kinh phí. Ví dụ ngay văn phòng Cố vấn cho người tị nạn đã phải thuyên giảm số nhân viên của mình từ ba mươi người xuống chỉ còn có hai. Bởi nhà nước lập ra các chương trình phân bổ kinh phí chậm đến vài tháng. “Và trong lĩnh vực này thì việc tìm kinh phí từ các nguồn khác là vô cùng gian nạn,” Burdová- Hradečná nói thêm. “Ở đây vấn đề di trú và người tị nạn vẫn không hề được ai quan tâm.”

 Thế nhưng vẫn chưa phải là đã hết- không chỉ tiếng nói của các tổ chức phi chính phủ mà nguồn sống chính của nó là từ kinh phí nhà nước, chẳng ai thèm quan tâm, thì cũng không hề tồn tại bất cứ một cuộc khảo sát dư luận xã hội nào quan tâm đến vấn đề di trú và tình hình hiện nay của nó. “Từ các cơ quan công quyền chúng tôi chưa bao giờ nhận được đơn đề nghị thực hiện những khảo sát nào với tinh thần như vậy,” Stanislav Hampl từ Trung tâm nghiên cứu kinh nghiệm cho biết. Và điều này cũng được nhà xã hội học Miroslav Petrusek công nhận và giải thích vì sao mà những tranh luận có trách nhiệm về vấn đề này chưa bao giờ được ai quan tâm đến:  “Xoá bỏ cái cảm giác trách nhiệm của người có trí thức về vấn đề xã hội chung. Những người có học vấn quan tâm đến những chủ đề nằm trong các khuôn khổ nghiên cứu được tài trợ hay ít ra là những vấn đề hay ho. Với đại đa số thì chuyện người di trú quá lãnh nhách.”

 

David Nguyen
theo vietinfo.eu