Văn hoá doanh nghiệp bởi Nguyễn Quang

DoanhNghiep.Od.Ua – Mỗi doanh nghiệp giống như mỗi gia đình có những nề nếp riêng của mình. Cái nề nếp đó gọi rộng ra là Văn hoá. Nó bao gồm một hệ thống các giá trị, nguyên tắc, truyền thống…giúp cho mọi thành viên trong doanh nghiệp đó chuyển động theo cùng một hướng, tới cùng một mục tiêu.

Văn hoá doanh nghiệp có thể xem như là một bầu không khí mà ở đó mỗi thành viên hàng ngày hít thở. Nó là một cái gì đó trìu tượng khó nắm bắt song cũng lại rất cụ thể thông qua cách ứng xử của giám đốc doanh nghiệp hoặc cô thư ký nghe điện thoại, thậm chí cung cách hỏi khách của  người bảo vệ gác cổng, hoặc một cái thiếp chúc mừng sinh nhật nhân viên…

Những thành công của doanh nghiệp có bền vững hay không là nhờ vào nền văn hóa doanh nghiệp rất đặc trưng của mình. Bên cạnh vốn, chiến lược kinh doanh thì sức mạnh của văn hóa doanh nghiệp đã bám sâu vào trong từng nhân viên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Sự khác biệt đó được thể hiện ra ở những tài sản vô hình như: sự trung thành của nhân viên, bầu không khí của doanh nghiệp như một gia đình nhỏ, tệ quan liêu bị đẩy lùi và không còn đất để tồn tại xoá bỏ sự lề mề trong quá trình thảo luận và ra các quyết định quản lý, sự tin tưởng của nhân viên vào các quyết định và chính sách của doanh nghiệp, tinh thần đồng đội trong mọi công việc của doanh nghiệp…

Nền văn hóa doanh nghiệp đã mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng quan trọng. Thiếu vốn doanh nghiệp có thể đi vay, thiếu nhân lực có thể bổ sung thông qua con đường tuyển dụng, thiếu thị trường có thể từng bước mở rộng thêm, các đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước và đi mua tất cả mọi thứ hiện hữu nhưng lại không thể bắt chước hay đi mua được sự cống hiến, lòng tận tụy và trung thành của từng nhân viên trong doanh nghiệp. Khi đó, văn hóa doanh nghiệp làm nên sự khác biệt và là một lợi thế cạnh tranh.Xây đựng và sử dụng văn hóa của mình chính là nguồn gốc tạo nên sự khác biệt và là con đường chiến thắng trên thương trường. Tuy nhiên, chúng ta không chỉ xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp thuần tuý mà điều quan trọng là phải biến những giá trị văn hóa đó thành lợi nhuận, đưa vào trong nhận thức và như một phần giá trị của mỗi nhân viên và đội ngũ lãnh đạo.Nhằm đảm bảo xây dựng và duy trì văn hóa của mình các doanh nghiệp chỉ nên tuyển chọn những người biết chia sẻ, có thái độ thân thiện, nhiệt thành và có khiếu hài hước. Bài học này các doanh nghiệp nên tham khảo kinh nghiệm của Southwest Airlines. Tập đoàn này khi tuyển dụng các vị trí nhân sự ở mọi cấp đều tập trung vào 7 điểm cơ bản sau: 1) thái độ chia sẻ, 2) lòng nhiệt tình, 3) khả năng ra quyết định, 4) tinh thần đồng đội, 5) khả năng giao tiếp, 6) Sự tự tin 7) Các kỹ năng có thể tự hành động.Tạo dựng nền văn hóa doanh nghiệp cần dựa trên hiệu quả công việc . Từng cá nhân đều phải được đối xử theo khía cạnh con người chứ không như những người làm thuê.

Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân không thể tách rời nhau. Một doanh nghiệp có cả hai loại văn hóa đó quyện vào nhau sẽ làm nên sức mạnh của doanh nghiệp. Một nước có nhiều doanh nghiệp như thế sẽ là nền tảng của một nền kinh tế giàu mạnh. Chính vì thế, muốn mạnh, muốn đủ sức để cạnh tranh với thế giới, các doanh nhân lãnh đạo của Việt Nam không thể không xây dựng những nét văn hóa trên, đi từ những điều bình thường trong gia đình đến những nguyên tắc nghiêm nhặt của một doanh nghiệp. Lãnh đạo một doanh nghiệp không phải là một đặc ân trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nó vừa là một nghệ thuật vừa là một thiên chức cần phải phấn đấu không ngừng nghỉ. Nó hàm chứa cả “đạo” lẫn “đức”. Đạo giúp tìm được con đường dài và chiến lược đúng để đi, còn Đức là phần thưởng vừa tinh thần vừa vật chất tích lũy được trên con đường kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp.

Có một số nhân xét là phần lớn các doanh nhân Việt Nam ít đọc sách, ít sử dụng email và ít truy cập thông tin trên internet. Kinh nghiệm về lãnh đạo và quản lý còn quá mỏng. Kiến thức về thị trường quốc tế, về kinh tế của các nước đang phát triển cũng còn sơ sài. Theo Michael Porter (giáo sư của trường kinh tế của Đại học Harvard), tài sản của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự cạnh tranh của nước ấy. Nhưng muốn cạnh tranh thành công, ngoài điều kiện cần là phải có một nền kinh tế vĩ mô như môi trường chính trị và cơ sở pháp lý ổn định, lại phải có điều kiện đủ là ưu tiên chăm sóc nền kinh tế vi mô như các cơ sở kinh doanh năng động và môi trường kinh doanh lành mạnh. Nếu phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam chưa tự trang bị cho mình đầy đủ tri thức cần thiết và không có tầm nhìn xa và rộng thì thực khó lòng có đủ sức cạnh tranh với thế . Một nhận xét khá chính xác là phần lớn các doanh nhân Việt Nam nắm giữ chức vụ cao không có lịch làm việc khoa học như các đồng nghiệp của họ ở nước ngoài. Lịch làm việc của các cấp lãnh đạo chưa phản ánh các chương trình ưu tiên và trọng điểm của Công ty, chưa dành nhiều thời gian trong năm để tham dự các buổi hội thảo trong nước hoặc quốc tế hoặc họp với các ban, ngành, chuyên gia tư vấn để thảo luận các vấn đề phát triển công tư mang tính chiến lược. Chương trình làm việc của các doanh nhân đứng đầu doanh nghiệp phần lớn có tính bị động nhằm giải quyết các vấn đề hàng ngày, là những vấn đề thuộc phần vụ của các chức vụ như Phó giám đốc hay trợ lý của thủ trưởng cơ quan.

Về mặt phân cấp chức năng, văn hóa doanh nghiệp Việt Nam khác với văn hóa của các nước phương Tây phát triển. Tại các nước này, mỗi cấp quản lý có quyền quyết định các hoạt động thuộc chức năng của mình, kể cả phần chi thu thuộc phạm vi trách nhiệm, ưu tiên của sự phân cấp chức năng là làm cho mỗi cấp quản lý có thêm trách nhiệm, thêm sự tự tin, phát huy mọi sáng kiến, năng động hơn và có hiệu nâng cao. Sự phân cấp chức năng còn giúp cho vị thủ trưởng có thêm nhiều thì giờ và năng lực để tập trung giải quyết các vấn đề then chốt mang tính vĩ mô của doanh nghiệp.

Ngày nay, bộ mặt của các doanh nhân đã khác xa so với các tiền nhân thời trước. Họ có học vấn cao, có tri thức đủ nhận biết tốt, xấu khi hành nghề, khác xa cả cung cách vận hành, bán buôn. Nhiều đại gia đã thành lập những tập đoàn, xây dựng nhà máy, xí nghiệp tự cung ứng cho thị trường, góp phần không nhỏ cho nền kinh tế của đất nước.

Có ngày của Doanh nhân Việt nam 13.10, nghĩa là nhà nước đã công nhận sự đóng góp to lớn của họ, đối với sự phát triển của xã hội… Doanh thương, buôn bán chính là dòng máu tuần hoàn của xã hội. Mặc dù dòng máu đó, với đặc thù cố hữu “lợi nhuận là trên hết” ví như trong máu có ít nhiêu độc tố, có thể gây ra vài ung nhọt, mẩn ngứa trên cơ thể, nhưng không vì thế mà bắt dòng máu ngừng chảy được.


Hội nghị diễn dàn doanh nghiệp Odessa năm 2008. Ảnh: Thành Long.

Theo báo Washington Profile, ngay ở trong xã hội tư bản, những bộ phận lành mạnh của giới doanh nhân cũng cố gắng thiết lập những tiêu chí đạo đức cho các hoạt động thương mại của mình.

Khái niệm đạo đức thương trường đã có nền móng tự hàng nghìn năm trước. Aristotle một triết gia Hy Lạp cổ đại, đã từng nói không ít điều có thể coi là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại. Theo Giáo sư James O’Toole của trường Đại học Tổng hợp Nam California, chính triết cổ đại này là người thực tế nhất và có “tâm hồn doanh nhân” nhất trong lịch sử triết học của loài người.
Chính Aristotle đã nêu ra ý tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện để tất cả cán bộ dưới quyền mình có thể thể hiện được mọi năng lực ở mức cao nhất. Khi nói kinh doanh có văn hoá (hay văn hoá kinh doanh) là ta đã nói đến một vấn đề cốt lõi, mang tính bản chất của kinh doanh đó là vấn đề đạo đức của người kinh doanh. Nói cách khác kinh doanh có văn hoá là kinh doanh phải có đạo đức. Đạo đức cầu người kinh doanh không phải là vấn đề trừu tượng, mà rất cụ thể: tính trung thực, giữ chữ tín đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã chủ trương đưa ra hình ảnh tối ưu nhằm nâng cao uy tín cho doanh nghiệp qua những triết lý kinh doanh như phục vụ khách hàng hoàn hảo, coi khách hàng là thượng đế chữ tín quý hơn vàng, gửi trọn niềm tin… Phải chăng đây chính là những tác động lâu dài và bền vững nhất của văn hoá khi nó thâm nhập vào công việc kinh doanh của các doanh nghiệp?

Xây dựng văn hoá kinh doanh không chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa kinh doanh và văn hoá mà cao hơn, nó phải là sự nhập thân của văn hoá vào công tác kinh doanh. Diều đó có nghĩa là chủ thể – người làm kinh doanh – phải thực sự là những doanh nhân văn hoá. Để đánh giá một doanh nhân có phải là một doanh nhân văn hoá hay không, cần nhìn nhận trên 6 yếu tố, điều kiện sau: 1. Là người có đạo đức tốt, có “tâm” theo những chuẩn mực của lối sống, văn hoá dân tộc.2. Có sự trung thực và chữ “tín”.3-Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật.4-Có trình độ học vấn và ngoại ngữ.5-Phát triển bền vững, sáng tạo và vì quyền lợi quốc gia.6-Hoạt động xã hội – từ thiện.

Doanh nghiệp Việt nam ở nước ngoài không chỉ là một bộ phận của Cộng đồng doanh nghiệp trong nước mà còn là một thành viên của doanh nghiệp nước sở tại. Đó là một lợi thế, song cũng là một thách thức to lớn.


Ban Biên Tập


Doanh nghiệp Odessa