Nhân đôi chút “nông nhàn” đầu thu, tớ rách việc viết vài dòng về thân phận của “nửa thế giới” xinh đẹp của giới đàn ông chúng ta xưa và nay. Nếu có gì không phải, xin được lượng thứ. Từ thời phổ thông, mặc dù chẳng lấy làm thích thú khi đọc thơ, đọc văn, nhưng những câu thơ về thân phận nàng Kiều của Nguyễn Du làm cho thằng đàn ông trong tôi đôi lúc cũng thấy nhói đau. Nhói đau về thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến, cổ hủ, lạc hậu. Đau khi nghe được nhà thơ Nguyễn Du, người luôn yêu quý phụ nữ phải thốt lên:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Ai sống trên đời cũng có số phận riêng, muôn người muôn phận, giàu sang phú quý hay nghèo khó, bất hạnh cứ như được sắp đặt sẵn do ý Trời. Đọc thơ Nguyễn Du, tôi thấy ông đã đúc kết rất xúc tích về cái phận khổ đau của đàn bà trong xã hội cũ? Cái phận đàn bà xưa tuân thủ giáo lý của Đạo Khổng “Tam tòng, tứ đức”, suốt đời làm oshin thực hiện nghĩa vụ làm con, làm vợ, làm mẹ để phục vụ cha, chồng, con. Cũng chẳng riêng gì phụ nữ Việt Nam hay phương Đông, ngay cả ở các nước châu Âu ngày xưa người ta cũng chỉ giao phó cho đàn bà ba nhiệm vụ, với khẩu hiệu 3K đó là: Kinder (con), Kuche (bếp) và Kirche (nhà thờ). Không có phận làm công dân, giữa làng, giữa nước. Đàn bà cũng không được làm linh mục, giáo hoàng.

Số phận nàng Kiều, tài sắc vẹn toàn, nhưng bị “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” nên bị vùi dập ba chìm,bảy nổi. Còn Vân, không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu, chấp nhận an phận thủ thường nên được sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Vì vậy, những người đàn bà có học, có tài mới khổ, mới tức khí thốt lên:

Thân này giả sử làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

Chính vì lẽ đó, những người phụ nữ ngày xưa mong muốn được “hóa kiếp” làm trai. Mơ ước làm đàn ông, theo nhà tâm lý học nổi tiếng Freud, là lúc sinh ra có được “Con chim”, Trong xã hội bất bình đẳng nam nữ với tư tưởng “Thập nữ viết vô, nhất nam viết hữu”, tôi nghĩ đây cũng là mong ước chính đáng của chị em. Đàn ông chúng tôi nếu phải sống chế độ mẫu hệ theo kiểu “Vợ chúa, chồng tôi” chắc lúc uất ức quá, trong lúc “chén chú, chén anh” có lẽ cũng mơ ước hão huyền là có cặp vú nở nang. Đấy là nghích lý nhưng lô gích phải không các bạn?

Bước vào thời đại mới, thời đại của máy tính, công nghệ thông tin, những tư tưởng lạc hậu, cổ hủ, coi thường phụ nữ bị các cuộc cách mạng dân chủ, nhân quyền cuốn đi. Đàn bà dân được “lên ngôi”, ngày càng khảng định vị thế vốn có của mình. Con cháu “Bà Trưng, Bà Triệu” bây giờ cũng thét ra lửa khi cầm quân, lãnh đạo cả giới đàn ông như Tổng tư lệnh Nguyễn Thị Định, rồi nhiều người nắm cương vị cao trong bộ máy chính quyền ta hiện nay như nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và nhiều bộ trưởng nữ trong chính phủ. Biết bao nhiêu nhà khoa học nữ, nhà doanh nghiệp nữ đã và đang làm rạng danh đất nước. Phụ nữ ngày nay đâu chỉ quẩn quanh xó bếp mà đoàng hoàng tham gia mọi hoạt động trong đời sống chính trị, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Phụ nữ thời nay cũng là bà nghị, lãnh đạo tập đoàn lớn, cười xe phân khôi lớn, lái ô tô, làm phi công…, nhưng nghề cứ tưởng chỉ dành riêng cho đàn ông mà thôi. Ở nhà thì tư tưởng phong kiến “Trọng nam khinh nữ” mất dẫn, đàn ông ngày nay cũng phải lao vào bếp nội trợ, đi đón con, rửa bát, quét nhà, “đến khi vợ gọi thì bẩm bà, CON đây”. Sướng quá đi mất. Nhìn ra thế giới, ta thấy hình như thế giới đang quay lại chế độ mẫu hệ: Có không ít các nguyên thủ quốc gia, bộ trưởng quốc phòng các nước là nữ. Quyền của phụ nữ ngày càng được đề cao, đặc biệt ở phương Tây. Một số nước có quy định “hơi bất công” đối với đàn ông, và quá nghiêng về bảo vệ quyền phụ nữ tới mức cực đoan. Chẳng hạn khi ly hôn, đàn bà được quyền nuôi con, tài sản kiểu gì cũng chia đôi, trong đó phụ nữ được hưởng nhiều hơn. Vì thế, có không ít tiếng nói phản kháng của đàn ông đã thốt lên “Đàn ông phải liệt vào Sách Đỏ” sắp tuyệt chủng cần phải bảo vệ gấp!!!

Hiến pháp, pháp luật mới cho người phụ nữ cái quyền có một sự nghiệp riêng. Còn xây dựng được sự nghiệp hay không, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ làm vợ, làm mẹ lại là cả một vấn đề. Được quyền tự do là một chuyện, còn đủ điều kiện để thực hiện quyền tự do ấy lại là chuyện khác. Có thể thất bại, có thể thành công. Đẹp nhất là hoàn thành cả ba vế, trăn trở khổ ải là những lúc nhiệm vụ này mâu thuẫn với nhiệm vụ khác. Và khó mà tránh mâu thuẫn.

Tuy nhiên, đối với tôi, phụ nữ Việt Nam ngày nay mặc dù đã được hưởng các quyền lợi, sự bình đẳng giới hơn trước đây, nhưng những tư duy phong kiến cổ hũ của giới đàn ông Việt cũng như những khó khăn trong cuộc sống thường nhật, nên cũng còn mệt mỏi, phong trần lắm. Phụ nữ ngày nay vẫn phải làm tròn bổn phận làm vợ, làm mẹ, xây dựng sự nghiệp riêng. Cả ba nhiệm vụ đều đòi hỏi sự toàn tâm toàn ý. Đây là bài toán khá học búa, nhất là trong một xã hội quá độ đầy những bất công ngang trái hiện nay.

Quá độ có nghĩa là mới xác định nguyện vọng, phương hướng, nhưng hạ tầng vật chất còn sơ sài, trong thượng tầng xã hội tư tưởng còn rơi rớt nhiều cái cũ. Nguyện vọng đã giao rồi, và ngày ngày báo chí, đài, phim, sách đề cao những người đàn bà làm nên sự nghiệp, không ai an phận được nữa với cảnh bếp núc.

Trong hoàn cảnh nước ta sự nghiệp của vợ khó mà không mâu thuẫn với sự nghiệp của chồng. Và cũng trong lúc quá độ, thường sự nghiệp của chồng đối với gia đình, với xã hội vẫn quan trọng hơn của vợ, vợ khó mà không buộc phải hy sinh phần của mình. Khách thường là của chồng, nhưng vợ dù có bận gì ở cơ quan xí nghiệp cũng phải chợ búa, nấu nướng đãi khách. Cũng vì còn là quá độ, nên con thường hơn cha, đúng hơn nữa là hơn mẹ. Học hành của con lên đến đại học, ít bà mẹ có thể so sánh được, và thi cử của con nhất định phải đặt lên trên nguyện vọng của mẹ; nói gì lúc con đi học nước ngoài hay thi tiến sĩ! Các bà vợ, bà mẹ đành ôm lấy ước mơ học tập phấn đấu hoàn thành công trình này hay nhiệm vụ khác, câu chuyện phục vụ chồng con vẫn choán hết sức khoẻ và thời gian. Mẹ thôi không nhắm làm Thư ký công đoàn nữa cũng được, vì gia đình quan trọng hơn là việc chồng được lên Trưởng phòng hay Vụ trưởng hoặc đứa con được vào đại học hay đi nghiên cứu nước ngoài là điều thiêng liêng. Không ai nghĩ ngược lại. Con mới học trung học thì mẹ đã giành lấy áo quần mà giặt. Giặt nhưng vẫn ấp ủ ước mơ học thêm một môn nào đó, hoàn thành một công trình khoa học hay văn nghệ, được kết nạp Đảng hay trở thành Giám đốc hay một doanh nhân nổi tiếng.

Làm vợ, làm mẹ không những chỉ đòi hỏi vất vả thức khuya dậy sớm, không còn thời gian làm gì khác. Quan hệ vợ chồng chung chăn chung chiếu, quan hệ mẹ con, khi cho bú, khi bế bồng tắm rửa là những quan hệ ruột thịt, giữa hai xác thịt với nhau, khác hẳn quan hệ với những người khác. Thông thường quan hệ giữa người và người đều thông qua ngôn ngữ, lời nói chữ viết, một dấu hiệu nào đó; lời nói dùng để truyền đạt ý nghĩa rất thuận lợi, nhưng lời nói cũng là cách dễ nhất để che giấu ý nghĩ của mình. Quan hệ giữa vợ chồng và mẹ con nằm ngoài ngôn ngữ, là trao đổi giữa hai xác thịt, khó che giấu, khó lừa dối nhau được. Đồng sàng mà dị mộng, nằm bên chồng, bên con mà đầu óc suy nghĩ trăm thứ, tâm bất tại, lo đến lời phát biểu ngày hôm sau ở một hội nghị hay một kỳ thi sắp đến, một câu thơ, bức tranh đang thai nghén, người chồng và đứa con nhỏ biết ngay là vợ là mẹ không toàn tâm với mình. Lời nói có dịu dàng ve vuốt đến đâu cũng không che đậy nổi.

Được bao nhiêu ông chồng, đứa con đang sống trong một xã hội còn đầy rẫy tư tưởng xưa thông cảm hết nỗi này. Chưa nói đến những người chồng tàn tệ, những đứa con bội bạc. Biết bao nhiêu người đàn bà có học, có tài rồi cũng đành phải để tài năng mai một trong một cuộc sống không khác thời xưa bao nhiêu, là đành lấy việc phục vụ chồng con, để chồng con hoàn thành sự nghiệp. Không thể lấy một vài trường hợp cá biệt thành công để khẳng định rằng xã hội ta đã giải quyết vấn đề phụ nữ một cách cơ bản. Chưa qua được thời kỳ quá độ, phụ nữ chưa thật sự được giải phóng, đừng lấy khẩu hiệu mà che đậy sự thật ấy. Nếu pháp luật đã công nhận quyền tự do bình đẳng của phụ nữ, và đây là một thành tựu lớn, chúng ta vẫn phải nhìn thẳng vào sự thật là việc thực hiện quyền ấy còn xa xôi.

Trong đời một người đàn bà, vất vả nhất mà cũng quan trọng nhất là thời gian nuôi con mọn, từ lọt lòng đến 15 – 18 tháng, lúc con biết đi và biết nói thực sự. Trước đó là tuổi bế bồng, đứa con hoàn toàn bất lực, hoàn toàn phụ thuộc vào người mẹ. Trong lòng mẹ, cái thai tiếp nhận tất cả chất liệu để sống từ cơ thể của mẹ, đó là giai đoạn cộng sinh. Lọt lòng, sữa mẹ là thức ăn không gì thay thế được, và nằm trong lòng mẹ, hơi ấm của mẹ toả ấm khắp người, hơi hám của mẹ bao lấy mình, đứa con có cảm giác vừa dễ chịu thoải mái, đây là hạnh phúc tuyệt đối và con người ta lớn lên, mỗi lần ra đời vấp váp gì không vượt qua, cách an ủi hay nhất là trở về ngả đầu vào lòng mẹ; các tôn giáo cũng không nghĩ ra một cảnh thiên đường nào hơn là cho người tín đồ ngả vào lòng một đức Thánh Mẫu.

Em bé không những tiếp nhận từ mẹ những gì để sống về mặt sinh lý, quan trọng hơn nữa là sự trao đổi chơi đùa, trò chuyện giữa mẹ và con suốt ngày hú hí với nhau. Nếu quan hệ giữa hai cơ thể là tiền ngôn ngữ, thì lúc dùng đến ngôn ngữ cũng chưa phải là ngôn ngữ chung của xã hội, mà một thứ ngôn ngữ riêng cho hai mẹ con, chỉ hai mẹ con hiểu lấy nhau, vì thực chất về mặt tâm lý bản ngã của em bé chưa hình thành, chưa tách rời mẹ, đứa con còn ở giai đoạn hoà mình với mẹ. Cạnh một em bé trước 15-18 tháng, luôn phải có một người mẹ với hai đức tính cơ bản. Em bé chưa biết nói, người mẹ phải rất nhạy cảm với yêu cầu của con, con chỉ vặn mình hay ú ớ một tiếng là mẹ biết ngay con đang cần gì. Ai cũng biết nhiều bà mẹ có thể ngủ say giữa tiếng ồn ào của xe cộ qua lại, nhưng hễ con kêu lên một tiếng nhỏ là tỉnh ngay. Có hai đức tính ấy, là người mẹ hiền. Người nào chăm sóc một em bé như vậy, dù không sinh ra nó đối với nó vẫn là mẹ hiền. Đối với những đứa con nhà giàu, bà mẹ thường giao lại cho một bà vú em chăm sóc, thì chính vú em là mẹ.

Chúng ta cũng thấy rõ không có người mẹ hiền, không đứa con khôn lớn lên được. Nhiều nhà tâm lý học đã tổng kết về sự khác biệt của những đứa trẻ được mẹ chăm sóc ba bốn tháng đầu, về sau vì lý do này, lý do khác bà mẹ bỏ con, giao lại cho những nhà trẻ. Ở đây các em về mặt ăn uống về sinh được chăm nom rất đầy đủ, nhưng thiếu những bà mẹ hiền ngày ngày hú hí trò chuyện, dần dần nhiều em sinh ra đờ đẫn, bỏ ăn, bỏ chơi, rất nhiều em suy sụp về cơ thể, sinh bệnh.

Thiếu mẹ hiền trẻ em không thành người được. Ngược lại một người đàn bà không bao giờ nuôi một đứa con mọn, không bao giờ sống hoà mình với một đứa con cũng mất đi một kinh nghiệm sống không gì thay thế được, con người cũng què quặt đi, tình người cũng không được thật hoàn chỉnh. Có thể không thờ chồng đầy đủ, nhưng không thể không chăm nuôi con mọn. Một đứa con nhỏ, một em bé đem lại cho cuộc sống của người lớn những tình cảm không gì thay thế được. Một xã hội chăm nom đến trẻ em nhiều chừng nào, thì trình độ văn minh của xã hội ấy cao chừng ấy. Sau khi hai gia đình gây hấn với nhau, muốn hoà giải dễ nhất là một bên bế theo một em bé sang thăm, không khí sẽ cởi mở dễ nói chuyện với nhau.

Đối với những người phụ nữ có học vấn cao, có tài, nghiên cứu khoa học hay sáng tác văn nghệ. Cứ cho là đẻ hai con theo quy định của pháp luật ta, như vậy trong cả cuộc đời, ít nhất cũng phải tạm ngừng hoạt động ngành của mình mỗi lần 18 tháng, tập trung vào đứa con. Trong một cuộc đời 40 năm, thì thời gian 36 tháng cũng không đến nỗi quá dài. Trong thời gian ấy, gia đình, và đặc biệt đức ông chồng cũng phải tập chung giúp vợ, ông bà cũng vậy. Về phía xã hội, đối với những người phụ nữ có tài năng cũng nên tập trung giúp đỡ trong giai đoạn này về vật chất, về sắp xếp công tác. Có thể cơ quan hay đoàn thể giúp cử người, thuê người đến phụ việc để cho bà mẹ vẫn nuôi con, vẫn tiếp tục theo dõi được những đề tài cần thiết, để lúc trở lại công việc không quá bỡ ngỡ. Tôi không nói đến nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo, dịch vụ thương nghiệp vì đây là những vấn đề chung cho mọi chị em có con mọn.

Với một sự giúp đỡ tích cực ít nhất sẽ có một số chị em có tài không đến nỗi phải qua tấn kịch lựa chọn găy gắt giữa sự nghiệp và tình ruột thịt với con cái. Phận đàn bà bất kỳ ở chế độ nào cũng không thoát được cái vất vả nuôi con mọn, nhưng đó cũng là một điểm mà không có bất kỳ người đàn ông nào, dù có thương yêu con cái đến đâu cũng không thể nào sánh được với phụ nữ, vì lẽ đơn giản là đàn ông không thể cho con bú được; quan hệ ruột thịt giữa bố và con bất kỳ ở chế độ nào cũng không thể in sâu vào con người như giữa mẹ và con được.

Tản mạn về thân phận đàn bà thì có thể suốt ngày, suốt năm, suốt tháng, tôi xin mạn phép ngừng những lời tự sự này bằng vài câu thơ về “nghiệp chướng” làm đàn bà Việt Nam:

Vất thay thân phận đàn bà
Bên là sự nghiệp, bên là chồng con
Sao trời cứ bắt tội
Nửa thế giới của ta
Chịu trăm bề vất vả,
Từ bé cho đến già.
Để làm trọn bổn phận
Tình vợ, tình mẫu tử,
Biết thương mình vươn lên
Đàn bà ta nên nhớ
Một, suy nghĩ dứt khoát,
Mạnh mẽ như đàn ông.
Hai, không nơm nớp lo ế,
Sợ không lấy được chồng.
Ba, phải luôn ứng xử
Đúng như một quí bà.
Bốn, trông thật tươi trẻ,
Dù mấy chục tuổi già.
Quên đi mọi phiền muộn
Phận liễu yếu đào tơ,
Không than thân trách phận
Đời tôi như ngựa thồ

Kiev, đầu thu năm 2014

Phan Anh