Phố Wall, thị trường tài chính lớn nhất thế giới đã gục ngã sau một cơn bão táp hồi trung tuần tháng 9. Với con mắt của một nhà thám tử, GS kinh tế Dani Rodrik của trường Kinh doanh Harvard đã truy tìm thủ phạm gây nên cái chết của thị trường Phố Wall…

Tự đưa mình vào thế bí

Trong những ngày gần đây, có lẽ sẽ chẳng mấy khó khăn hay quá ngạc nhiên khi bỗng dưng bạn trở thành một kẻ luôn hồ nghi về mọi hoạt động tài chính.

Vậy thì tại sao chúng ta không cùng nhau ôn lại một chút về việc những lý luận logic của sự đổi mới tài chính đã hấp dẫn chúng ta ra sao – chính sự đổi mới mà dường như cách đây không bao lâu đã dẫn chúng ta tới tình trạng khốn khó hiện nay?

Liệu có ai từng không muốn thị trường tín dụng có thể đáp ứng được những mục tiêu về việc được sở hữu một căn nhà? Vậy thì tại sao chúng ta không khai vị cùng một cuộc đua tranh nho nhỏ diễn ra trong lĩnh vực cho vay thế chấp?

Chúng ta từng cho phép những tổ chức phi ngân hàng cung cấp các khoản cho vay mua nhà và từng cho họ cơ hội tung ra những hình thức thế chấp tài sản ngày càng sáng tạo hơn, và tất nhiên, có thể hiểu là cũng dễ chịu hơn đối với các vị chủ nhà tiềm năng – những người mà trước đó đã không được đáp ứng nhu cầu bởi các tổ chức cho vay chính thống.

Những khoản cho vay này sau đó đều được tập hợp lại và bán ra cho các nhà đầu tư dưới hình thức chứng khoán, điều này làm giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện. Hơn thế, luồng thanh toán cho những khoản cho vay mua nhà này cũng được chia nhỏ ra thành những khoanh (tranches)[1] khác nhau với mức độ rủi ro rất đa dạng, nhà đầu tư nào nắm giữ các gói có độ rủi ro càng cao thì lãi suất càng lớn.

Và rồi sau đó, chúng ta lại kêu gọi các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm (credit rating agencies) đứng ra chứng nhận rằng mức độ an toàn của một số chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp ít rủi ro đủ để mời gọi các công ty bảo hiểm hay quỹ hưu trí đầu tư vào.

Trong trường hợp nếu vẫn có sự lo ngại, chúng ta lại tạo ra các chứng khoán phái sinh cho phép tất cả các đối tác đầu tư được phép mua bảo hiểm cho những rủi ro có thể xảy ra từ chính những nhà phát hành ra các chứng khoán đó.

Nếu đã từng muốn trình diện hết thảy những lợi ích từ việc cải cách tài chính, có lẽ bạn sẽ không thể tìm được một cách dàn xếp nào tuyệt hơn vậy. Và nhờ có chúng, hàng triệu người nghèo, cả những gia đình vẫn thường bị khước từ cho vay, đều trở thành những ông bà chủ nhà; còn các nhà đầu tư của chúng ta thì kiếm được những món lời cao ngất; cuối cùng, không thể không kể đến những nhà trung gian tài chính bỏ túi bộn tiền thu được từ khoản phí và hoa hồng.

Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ như một giấc mơ – và cho tới điểm cách đây một năm rưỡi, các chuyên gia tài chính, kinh tế và nhà hoạch định chính sách của chúng ta vẫn nghĩ rằng nó đang thực sự tốt đẹp.


Sự thật bão táp

Rồi một ngày kia, mọi thứ bỗng dưng sụp đổ. Cuộc khủng hoảng đã nhấn chìm thị trường tài chính, và chỉ trong vài tháng ngắn ngủ đã chôn vùi thị trường Phố Wall, đồng thời đã kéo cả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xuống dốc.

Cuộc giải cứu gần một nghìn tỷ đô la cho những tổ chức tài chính đang bấn loạn mà Bộ Tài chính Hoa Kỳ vừa ra tay với nỗ lực làm tan băng thị trường, không khỏi gợi cho chúng ta nhớ tới Cuộc khủng hoảng đồng Peso của Mexico vào năm 1994 hay khủng hoảng tài chính Châu Á vào những năm 1997 – 1998.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không tránh khỏi tự băn khoăn là sai sót đã xảy ra ở đâu? Nếu các phương thức cứu vớt không hướng chính xác tới cội nguồn, gốc rễ của cuộc khủng hoảng, thì mọi nhiệt tâm nhằm cải thiện tình hình của chúng ta có thể sẽ phải chấm dứt với việc giết chết những cách thức cải tổ tài chính hữu hiệu.

Một trong những mối lo ngại chính là ở chỗ không thiếu những người đang đang tỏ ra hoài nghi. Liệu vấn đề có phải chính những người cho vay thế chấp vô lương tâm – những kẻ đã nghĩ ra các thuật ngữ tín dụng chẳng hạn như: mức lãi suất “khơi gợi” hay mức phạt trả trước – đã dẫn dắt những người đi vay “ngây thơ”, không chút ngờ vực, vào một cái bẫy nợ nần?

Nhưng có lẽ, chiến lược vừa nêu sẽ trở nên đuối lý với chính bản thân những người cho vay, trừ khi họ tin tưởng rằng giá nhà vẫn tiếp tục tăng cao.

Kẻ giết chết Phố Wall

Phải chăng bị cáo thực sự của phiên toà này lại là hiện tượng bong bóng địa ốc bắt nguồn từ cuối những năm 90 của thế kỉ trước, và sự chần chừ, do dự để làm xẹp nó của Quỹ dự trữ Liên bang (Fed) dưới thời Alan Greenspan? Mặc dù vậy, sự bùng nổ về số lượng các cam kết nợ có thế chấp được bảo đảm – một công cụ phái sinh được biết đến như là các danh mục trái khoán (CMOs – Collateralized Debt Obligations) hay những chứng khoán tương tự đã đi quá xa khỏi giới hạn cần thiết để giữ vững ổn định thị trường cho vay thế chấp.

Và cũng không sai, nếu nói một trong những nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng chính là các Hợp đồng Bảo hiểm Tín dụng Phái sinh – hay các Giao dịch chuyển đổi Rủi ro Tín dụng hoặc Hợp đồng Bảo lãnh nợ khó đòi (CDS – Credit Default Swaps)[2], từ mục đích bảo hiểm chúng đã trở thành một công cụ đầu cơ và khối lượng của chúng đã làm cho người ta kinh hoàng bởi con số lên tới 62 nghìn tỉ USD.

Như vậy có thể thấy một điều rằng, quy mô của cuộc khủng hoảng không lan rộng đến như thế, nếu bản thân các loại hình tổ chức tài chính không đẩy họ vào tình trạng tỷ lệ vốn vay cao ngất trời trong một cuộc chạy đua với tham vọng kiếm tìm lợi nhuận ngày càng lớn.

Trong khi đó, những tổ chức đánh giá tín nhiệm của chúng ta họ đang ở đâu, và làm gì? Nếu họ đảm nhiệm công việc của mình một cách trọn vẹn, nếu họ đưa những lời cảnh báo kịp thời về những nguy cơ có thể xảy ra, thì chắc chắn thị trường của chúng ta sẽ không bị cuốn chìm kéo theo không biết bao nhiêu các nhà đầu tư. Liệu đây có phải là mấu chốt của vấn đề?

Hay phải chăng những kẻ phạm tội thực sự lại đang nằm ở bên nửa kia của địa cầu? Phải chăng những hộ gia đình châu Á với các khoản tiết kiệm cao ngất ngưởng, những ngân hàng trung ương tích trữ ngoại tệ dưới dạng đồng Đô la, đã tạo ra một cơn lốc tiết kiệm ồ ạt trên toàn cầu?

Cũng có thể chính cơn lốc ấy đã đẩy lãi suất thực tế tới bên bờ vực, và rồi sau đó như thứ nhiên liệu càng làm cho quả bong bóng địa ốc ở Mỹ phình to; cùng một lúc lại đẩy các nhà tài chính vào những phi vụ còn phiêu lưu mạo hiểm hơn với khoản tiền đi vay.

Nên chăng những nhà hoạch định chính sách vĩ mô cùng phối hợp các chính sách, điều luật lại với nhau và ra tay hành động đúng lúc để tháo gỡ tình trạng mất thăng bằng cán cân thanh toán một cách trầm trọng như vậy? Và nên chăng họ không không nên để cho tình trạng mất tính thanh khoản cao đến mức như vậy – dường như nó chỉ chờ thời cơ là bùng phát ngay?

Tuy nhiên, xét cho tới cùng thì có lẽ nguyên nhân đẩy chúng ta vào tình cảnh hỗn loạn như hiện nay chính là khả năng yếu kém của Bộ tài chính Hoa Kỳ khi thực hiện vai trò của mình từ lúc cuộc khủng hoảng mới chỉ hé lộ. Mọi thứ càng trở nên tồi tệ và trầm trọng, thị trường tín dụng gần như đi vào bế tắc hoàn toàn khi Bộ trưởng Bộ tài chính – ngài Henry Paulson – từ chối giải cứu cho Lehman Brothers.

Ngay lập tức sau khi quyết định được ban hành, ngân quỹ tạm thời cho các công ty tư bản hóa tốt nhất hầu như sụp đổ và toàn bộ hệ thống tài chính đi tới vận hành lệch lạc.

Khi cơn bão qua đi

Nếu xem xét một cách kĩ lưỡng hơn một chút về viễn cảnh thực thế có thể diễn ra, thì lẽ ra ngài Paulson dù không muốn nhưng cũng nên chấp nhận một cuộc cứu cánh cho Lehman như những gì đã làm với Bear Stearns và định làm với AIG: giải cứu cho họ bằng tiền của nhưng người đóng thuế. Phố Wall có thể đã sống sót, và những công dân đóng thuế của Hoa Kỳ dầu phải tiết kiệm nhiều hơn cũng vui lòng.

Có lẽ sẽ là vô ích khi cứ ra sức kiếm tìm một nguyên nhân đơn lẻ nào đó, mà nếu không vì nó thì một cơn bão của hệ thống tài chính đã không tạt qua chúng ta. Và cũng có lẽ sẽ là một ý nghĩ phần nào giúp bạn cảm thấy an ủi (nếu bạn còn niềm tin vào sự sớm ổn định tài chính): đây chỉ là một “cơn bão hoàn hảo”, một sự thất bại hiếm thấy.

Vậy cái chết của thị trường phố Wall sẽ cho chúng ta thấy điều gì? Đó có phải là một vụ tử tự? Một vụ giết người? Một cái chết do tai nạn? Hay chăng nó là một minh chứng hiếm hoi cho sự thất bại của các nhà chức trách, các cơ quan quản lý? Chúng ta dường như sẽ khó lòng mà biết được sự thật.

Rồi tới đây các nhà làm luật sẽ lại ban hành những luật định mới để ngăn cản sự kiện này tái diễn; và do đó, chúng ta cũng không cần thiết phải cứ giữ mãi những ấn tượng sâu sắc về sự bấp bênh này làm gì nữa.

Đó chính là lý do tại sao bạn có thể chắc chắn rằng chúng ta sẽ rồi cũng lại sẽ có một cuộc khủng hoảng tài chính khác (một lúc nào đó trong tương lai), ngay khi mọi dấu ấn về cuộc khủng hoảng lần này dần mờ đi trong kí ức mỗi người. Bạn có thể đánh cược tất cả số tiền dành dụm của cả đời mình vào đó. Và trên thực tế, tôi tin chắc bạn sẽ làm như vậy.

– Bài viết của Dani Rodrik trên tạp chí Harvard Kennedy –

[1] Tranches xuất phát từ một từ trong tiếng Pháp “miếng, khoanh”, và ngày nay được sử dụng phổ biến với ý nghĩa như là những khoanh chứng khoán, với mức độ rủi ro khác nhau mang lại cho nhà đầu tư quyền cũng như nghĩa vụ khác nhau trong một danh mục đầu tư. Chẳng hạng như các CMOs thường có 4 khoanh loại A, B, C, Z – tương ứng với các trái phiều chi trả nhanh, trung bình, chậm, cộng thêm một phần chia (tranch) không có phiếu lãi (coupon) nhưng được nhận lượng tiền mặt từ số thế chấp còn lại sau khi các phần chia khác đã được thoả mãn. Khi đó, lợi nhuận sẽ được trả cho trái khoán theo thứ tự ưu tiên đến hạn, đầu tiên là các khoanh trái khoán loại một (senior tranches) sau đó mới đến lượt khoanh trái khoán loại hai (junior tranches). Nhưng nếu rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra thì khoanh trái khoán loại hai phải gánh chịu hậu quả đầu tiên.

[2] CDS – Những hợp đồng loại này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra, theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ; thường diễn ra giữa các ngân hàng, định chế tài chính với nhau (như bên bán A và bên mua B bảo hiểm rủi ro cho công ty C) nhằm hạn chế rủi ro cho các khoản vay tín dụng. Loại bảo hiểm phái sinh CDS này- thường 5 năm -, do 2 bên A và B tự thỏa thuận, hoặc là bên A thế chấp ít (5 % tổng số bảo hiểm 10 tỷ USD) hoặc là nhờ uy tín không cần thế chấp. Bên A, qua vậy, không cần đọng vốn hoặc không đủ tài sản vẫn thu được lợi nhuận từ phí bảo hiểm của bên B.


theo InTeVeS