Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng gì mới lạ trong lịch sử phát triể̉n của loài người, có mới đi chăng nữa chỉ là ở chỗ làn sóng Toàn cầu hóa thời nay xảy ra với tốc độ cao hơn, cường độ mạnh hơn, và phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây mà. Và dân tộc ta đã có ý thức chủ động hòa mình vào làn sóng ấy.

LÀN SÓNG TOÀN CẦ̀U HÓA THỨ NHẤ́T (1492 – 1760)

Làn sóng Toàn cầu hóa thứ nhất được đánh dấu bởi sự kiện Christopher Columbus tình cờ phát hiện ra Châu Mỹ, kéo dài cho đến cuối thế kỷ 18 và đã để lại nhiều hệ quả sâu sắc. Nếu như trước năm 1500, trình độ phát triển và điều kiện sống của con người trên thế giới (về thu nhập, tuổi thọ v.v.) tương đối đồng đều thì đến cuối thế kỷ 18, thế giới đã bị phân hóa một cách rõ nét. Đặc biệt, sự thăng trầm quyền lực của các quốc gia xảy ra với tốc độ khá nhanh. Trung Quốc là một ví dụ rất tiêu biểu, từ một nước dẫn đầu thế giới về gần như mọi phương diện trở thành một nước rơi vào sự đe dọa thường trực của phương Tây. Cho đến thế kỷ 15, có thể nói Trung Quốc là đại cường quốc của thế giới và là quốc gia đi đầu trong hầu hết mọi lĩnh vực. Trung Quốc lúc bấy giờ chiếm 1/5 dân số thế giới và là một quốc gia (đồng thời cũng là thị trường) thống nhất với diện tích rộng mênh mông. Trung Quốc cũng là nước có hạm đội hải quân hùng mạnh nhất. Về thương mại, Trung Quốc hồi đó là một trong vài nước có thặng dư thương mại, và theo một số ước lượng thì thương mại đường biển của Trung Quốc lớn gấp 15 lần thương mại qua biển Baltic của cả Châu Âu gộp lại. Về các mặt triết học, văn học, nghệ thuật, tôn giáo v.v. Trung Quốc đều có thể tự hào về những đóng góp của mình cho nền văn hiến của nhân loại.

Một điều hết sức thú vị là quá trình giao lưu về mặt tư tưởng xảy ra song song với tiến trình Toàn cầu hóa. Làn sóng Toàn cầu hóa thứ nhất thực chất là lịch sử của các cuộc chinh phạt và sự manh nha của chủ nghĩa thực dân. Về mặt kinh tế và quân sự, Trung Hoa đã phải dần lùi bước trước các nước phương Tây với công nghệ giao thông và quân sự ưu việt hơn. Và đương nhiên, cán cân thương mại giữa Trung Quốc và các nước phương Tây cũng thay đổi theo hướng có lợi cho các nước phương Tây. Song song với những biến động này, quyền lợi của người tiêu dùng (thành phần chủ yếu làm nên thị trường) đã có thay đổi đáng kể, bởi vì họ được cung cấp hàng hoá từ nhiều quốc gia khác nhanh chóng hơn, với mức giá rẻ hơn đáng kể so với trước đó. Hiểu một cách nôm na, khoảng cách giữa nhà sản xuất-cung ứng, và người tiêu dùng, đã thu hẹp đáng kể; khoảng cách giữa các nhà sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau cũng trở nên gần hơn, dẫn đến có nhiều cơ hội hợp tác và hỗ trợ nhau về công nghệ, kỹ thuật v.v.

Giai đoạn Toàn cầu hoá lần này đã làm thế giới co lại từ kích thước lớn thành kích thước trung bình, đồng thời khẳng định tác nhân then chốt thúc đẩy qúa trình hội nhập toàn cầu, đó là vai trò của từng quốc gia sở hữu sức mạnh cơ bắp bao nhiêu? như thế nào? và sử dụng chúng ra sao?

LÀN SÓNG TOÀN CẦ̀U HÓA THỨ HAI (1760 – 1914)

Làn sóng Toàn cầu hóa thứ hai được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, khởi thủy từ nước Anh vào nửa cuối thế kỷ 18, và kéo dài cho đến thế chiến thứ nhất. Sự xuất hiện của máy hơi nước, và sau đó là đường sắt, điện tín v.v. và cùng với nó là làn sóng Toàn cầu hóa thứ hai đã đưa thế giới chuyển sang một quỹ đạo mới. Sức mạnh của động cơ hơi nước đã thay thế rất nhiều cho lao động nặng nhọc, đồng thời năng suất cao hơn cũng có nghĩa là từ nay thế giới có thể duy trì được một dân số lớn hơn. Bên cạnh những điều thần kỳ mà cuộc cách mạng công nghiệp mang lại cho nước Anh cũng như một số nước công nghiệp khác, thì thời kỳ này cũng chứng kiến sự hình thành nên một giai cấp mới – giai cấp vô sản bị bần cùng hóa. Cuộc đấu tranh giai cấp làm nên một phần lịch sử nhân loại cũng bắt đầu từ đấy. Cũng như nước Anh, các nước phương Tây khác lao như thiêu thân vào cuộc chiến giành thuộc địa, vì thuộc địa rộng lớn đồng nghĩa với việc có nguồn nhân công và nguyên liệu rẻ mạt dồi dào hơn để phục vụ công nghiệp hóa, có thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, có sức mạnh kinh tế và quân sự hùng mạnh hơn… Kết quả là nếu như vào năm 1800, châu Âu mới kiểm soát 35% lãnh thổ trên thế giới, thì con số này tăng lên 67% vào năm 1878 và 85% vào năm 1914 – năm bắt đầu của thế chiến thứ nhất. Thế giới dường như đã rơi vào ngõ cụt khi một nước, để tránh thân phận thuộc địa, buộc phải thuộc địa hóa kẻ khác. Và đây cũng là chiến lược thống trị của các quốc gia phương Tây, của Nhật và Mỹ trong làn sóng Toàn cầu hóa thứ hai. Và điều gì phải đến đã đến. Châu Âu đã phải nhờ đến bàn tay của thần chiến tranh để giải quyết mâu thuẫn và sự bế tắc của mình. Mặc dù thế chiến thứ nhất thường được mệnh danh là “cuộc chiến chấm dứt mọi cuộc chiến”, nhưng trên thực tế nó đã không thể mang lại nền hoà bình cho châu Âu. Có chăng chỉ là một khung cảnh ảm đạm thê lương của một châu Âu thất thểu và kiệt sức.

Giai đoạn Toàn cầu hoá lần này đã làm thế giới co lại từ cỡ trung bình xuống cỡ nhỏ. Nhưng khác với lần Toàn cầu hoá trước, động lực phát triển xã hội không còn là các quốc gia riêng biệt nữa, mà là các công ty đa quốc gia. Và như vậy, đối với tất cả những công ty muốn tham gia tiến trình này, có lẽ câu hỏi thường trực là: vị trí công ty trong nền kinh tế toàn cầu? Công ty cần tận dụng các cơ hội như thế nào để phát triển bền vững?


GIỮA HAI LÀN SÓNG TOÀN CẦ̀U HÓA (1914 – 1980)

Mâu thuẫn bên trong chủ nghĩa thực dân cũng như giữa người dân thuộc địa với các nước thực dân đã đặt dấu chấm hết cho làn sóng Toàn cầu hóa thứ 2. Từ 1914 cho đến 1945, Toàn cầu hóa hoàn toàn dừng lại. Siêu lạm phát ở Đức ngay sau chiến tranh, rồi đến cuộc đại khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ năm 1929, sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít ở Đức, rồi ở Ý và Nhật, cuộc chiến tranh thế giới thứ 2…, tất cả đều dẫn tới cùng một đích: sự hủy diệt. Nhưng từ đống tro tàn của thế chiến thứ hai, trong khi cả châu Âu gần như đã hoàn toàn kiệt quệ thì nước Mỹ đã nổi lên và khẳng định mình như là một cường quốc mới với sứ mạng lãnh đạo làn sóng toàn cầu mới. Thế chiến thứ 2 cũng đã cho thế giới thấy nhu cầu hợp tác và xích lại gần nhau giữa các quốc gia, và một số thể chế toàn cầu đã được hình thành ngay sau chiến tranh như UN, WB, IMF v.v. Vào năm 1950, tỉ trọng xuất khẩu so với GDP của toàn thế giới đã giảm xuống chỉ còn 5% – bằng con số của năm 1870! Đa số các nước đang phát triển theo đuổi chính sách hướng nội, thay thế nhập khẩu. Đáng lưu ý là chính trong lúc ấy, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, và Singapore, khi ấy vẫn còn là những nước nghèo đang phát triển, lại chọn một chiến lược khác hẳn: đặt trọng tâm vào xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo và nhờ đó đã có những bước nhảy vượt bậc. Thế giới đã xuất hiện một sự phân cực ngày càng rõ ràng hơn về mức độ giàu nghèo.


LÀN SÓNG TOÀN CẦ̀U HÓA THỨ BA (1980 – ?)

Làn sóng Toàn cầu hóa thứ ba chỉ thực sự nổi lên vào những năm 1980, đánh dấu bởi sự gia tăng của công-ten-nơ hóa, sự phát triển vận tải hàng không, cước phí thông tin liên lạc giảm đi một cách nhanh chóng, sự phát triển ứng dụng rộng rãi của công nghệ sinh học và điện tử, và sự xuất hiện và phát triển như vũ bão của internet!

Nếu thu gọn hệ quả của Toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay về một vài từ thì những từ đó có lẽ sẽ là tốc độ cao, khoảng cách nhỏ, mật độ cao, cường độ lớn! Chưa bao giờ cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta lại phụ thuộc sâu sắc và trực tiếp vào những quyết định, hành động, sự kiện xảy ra cách xa chúng ta hàng ngàn dặm như ngày nay. Bin Laden vốn chẳng có chút liên hệ gì với chúng ta trở thành một trong những nhân vật được biết tới nhiều nhất ở Việt Nam; dịch SARS khởi phát ở Trung Quốc và lan rộng khắp thế giới, khủng hoảng tài chính ở Mỹ trong mấy ngày gần đây.v.v. Những sự kiện này xảy ra cách chúng ta rất xa, và trong đó đa số trường hợp độc lập với ý chí của chúng ta, nhưng lại trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của đại bộ phận người dân Việt Nam. Một lần nữa, thế giới bước vào một bước ngoặt, và khi gia tốc của thế giới tăng lên không ngừng thì chỉ cần chậm chân (chứ chưa nói đến xảy chân) thì tụt hậu và lạc đường là hệ quả tất yếu. Trong khi những năm 1980 được mệnh danh là “một thập niên bị đánh mất” của các nước châu Mỹ La-tinh, và trong khi phần lớn các nước châu Phi tiếp tục hứng chịu hậu quả từ nội chiến, những xung đột và chính sách kém cỏi của nhà nước thì hai người khổng lồ Ấn Độ và Trung Quốc đã bừng tỉnh. Hai nước này đã quyết định đưa nền kinh tế ra khỏi quỹ đạo cũ để hòa mình vào trào lưu chung của thế giới. Công cuộc mở cửa nền kinh tế và phát triển theo hướng thị trường hóa đã mang lại cho hai quốc gia này những thành tựu về kinh tế rất đáng khâm phục. Ấn Độ duy trì mức tăng trưởng bình quân 6-7% kể từ đầu những năm 1990, còn ở Trung Quốc là 8-9% trong suốt hơn 20 năm trở lại đây. Đáng lưu ý, điều thần kỳ chỉ này không chỉ xảy ra với Ấn Độ và Trung Quốc mà xảy ra với hầu hết những nước biết tận dụng sức mạnh của Toàn cầu hóa.

Không như Toàn cầu hóa trong các kỷ nguyên trước, ở chỗ chỉ làm cho thế giới co lại, mà giai đọan này, Toàn cầu hoá đã có thay đổi khác biệt – sự thay đổi về chất, đó là làm phẳng thế giới và trao quyền cho các cá nhân. Công dân từ mọi ngõ nghách trên thế giới này, nếu không bị hạn chế bởi luật pháp, đều được trao quyền, tạo điều kiện để tất cả cùng bình đẳng tham gia hội nhập.


TOÀN CẦ̀U HÓA VỚI VIỆT NAM

Toàn cầu hóa là một hiện thực mới ở Việt Nam. Chúng ta mới chỉ thực sự làm quen với Toàn cầu hóa trong vòng 20 năm trở lại đây. Nhớ lại là vào cuối thế kỷ 15, khi làn sóng Toàn cầu hóa thứ nhất bắt đầu thì dân tộc ta vẫn còn bế tắc dưới thời vua Lê, chúa Trịnh; và đèo Ngang vẫn còn sừng sững trên tiến trình Nam tiến của dân tộc. Trong làn sóng Toàn cầu hóa thứ hai, chúng ta, lại một lần nữa, không phải là người trong cuộc. Nếu như dân tộc ta đã không có ý thức về làn sóng thứ nhất thì chúng ta đã chủ động chối bỏ một cách có ý thức làn sóng thứ hai. Rất may là đối với làn sóng Toàn cầu hóa thứ ba này, dân tộc ta đã có ý thức hơn và đã chủ động hòa mình vào làn sóng ấy, dám chấp nhận vị mặn chát của nó để đổi lấy sức mạnh của đại dương. Chỉ có tinh thần ấy mới tương xứng với những cơ hội và thách thức to lớn mà Toàn cầu hóa đang đem lại cho dân tộc chúng ta.

Nghịch lý của Toàn cầu hóa là nó có thể biến mọi điều thành có thể và ngược lại. Nó có thể tước đoạt hoặc gia tăng quyền lực. Nó có thể đồng hóa, làm nghèo đi, đồng thời cũng có thể làm cho các nền văn hóa giao tiếp, xẻ chia, và cùng trở nên phong phú. Nó mở ra triển vọng phát triển, nhưng cũng có thể khiến mọi người ôm giữ chặt hơn “cây ô liu” truyền thống. Toàn cầu hóa có nghĩa là chúng ta vừa lớn lên lại vừa nhỏ lại, vừa mạnh lên đồng thời lại vừa yếu đi… Tuy nhiên, một bài học sâu sắc từ lịch sử là mọi cơ hội và thách thức gắn liền với Toàn cầu hóa đều chỉ là những khả năng, và xác suất để những khả năng này trở thành (hay không trở thành) hiện thực phụ thuộc rất nhiều vào sự sáng suốt, thức thời và chuẩn bị của chúng ta.

Toàn cầu hóa như thời tiết, vì vậy loài người không thể trốn tránh hay cố tình phủ nhận nó, mà là phải hiểu được những quy luật của nó, từ đó thuận theo, thích nghi, đồng thời hạn chế tác hại của nó.

Vậy thì, thế nào là toàn cầu hóa??

Từ “Toàn cầu hóa” tuy phổ biến và lâu đời nhưng thật đáng ngạc nhiên, người ta lại rất khó trả lời và đi đến thống nhất về khái niệm Toàn cầu hóa.

Đối với Thomas Friedman (tác giả của “Chiếc Lexus và cây ô liu” và “Thế giới phẳng”) thì Toàn cầu hóa là một thế lực không gì ngăn cản nổi, được thúc đẩy bởi những bước tiến dài trong các lĩnh vực công nghệ, truyền thông, tài chính v.v. cho phép con người, hàng hóa, thông tin, và các dòng vốn lưu chuyển xuyên biên giới với một quy mô chưa từng thấy, từ đó kiến tạo nên diện mạo của những con người tự do và những quốc gia thịnh vượng. Còn đối với Namoi Klien (cũng là một nhà báo, tác giả của “No Logo”) thì Toàn cầu hóa là một thế lực ghê gớm nhưng mờ ám, bị thao túng bởi các tập đoàn quốc tế, có khả năng xóa nhòa ranh giới giữa giữa các quốc gia, san bằng các nền văn hóa, triệt tiêu vai trò của nhà nước – quốc gia (nation-state) và thủ tiêu các tiến trình dân chủ.

Nếu như Toàn cầu hóa được quan niệm một cách khái quát như một sự gia tăng các dòng chảy xuyên biên giới về con người, dịch vụ, vốn, thông tin và văn hóa thì lịch sử loài người đã trải qua ba làn sóng Toàn cầu hóa với mức độ và những đặc trưng rất khác nhau.

Odessa ngày 10/10/2008


Trung Kiên

»Liên quan