Với những người chỉ trích, toàn cầu hóa là nguyên nhân của sự sụp đổ tài chính hôm nay, gia tăng sự bất bình đẳng, thương mại gian lận và bất ổn. Đối với những người ủng hộ, toàn cầu hóa là giải pháp cho những vấn đề này. Mỗi quan điểm đều có những lập luận riêng…

“Nạn nhân của khủng hoảng kinh tế”

Không đúng. Điều đó chỉ xảy ra khi bạn cho rằng toàn cầu hóa chủ yếu chỉ trên lĩnh vực đầu tư và thương mại quốc tế. Những kẻ thánh chiến ở Indonesia có thể chia sẻ kế hoạch hành động với những phần tử cực đoan ở Trung Đông, những nghệ nhân Việt Nam có thể bán đồ gốm sứ ở châu Âu, các quan tòa Tây Ban Nha có thể cùng làm việc với đồng nghiệp ở Mỹ Latinh để đưa tội phạm ra tòa. Toàn cầu hóa, như nhà khoa học chính trị David Held định nghĩa, là “mở rộng, làm sâu sắc thêm và tăng tốc sự liên kết toàn cầu trên tất cả phương diện đời sống xã hội hiện tại”.

Một sự thật là các dòng chảy tín dụng và đầu tư tư nhân qua biên giới hiện đang giảm. Vào cuối năm 2008, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Mỹ giảm nhanh chóng, khiến thâm hụt thương mại còn 30%. Ở Trung Quốc, nhập khẩu giảm 30% và xuất khẩu giảm 3%. Tháng 11 năm ngoái, dòng vốn tới các thị trường đang nổi đạt mức thấp nhất kể từ năm 1995, và phát hành trái phiếu quốc tế gần như tạm hoãn.

Nhưng khi các hoạt động kinh tế tư nhân giảm, phong trào đầu tư công quỹ quốc tế tăng mạnh. Cuối năm ngoái, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và các ngân hàng trung ương Brazil, Mexico, Singapore và Hàn Quốc đã chi số tiền trị giá 30 tỉ USD nhằm ổn định lại thị trường tài chính. Các thỏa thuận tương hỗ tương tự giữa các ngân hàng trung ương từ châu Á, châu Âu và Trung Đông làm cho mối ràng buộc giữa các quốc gia này trở nên chặt chẽ hơn.

Một vài chính phủ có thể liều lĩnh đáp trả lại cuộc khủng hoảng bằng cách thông qua các chính sách có thể làm suy yếu thương mại, áp dụng các điều luật có thể làm cản trở hội nhập tài chính toàn cầu hoặc thực hiện các biện pháp ngăn cản dòng nhập cư. Tuy nhiên, chi phí rất khổng lồ và không thể duy trì trong thời gian dài. Thêm nữa, các cố gắng của bất cứ chính phủ nào bảo vệ nền kinh tế và xã hội khỏi các ảnh hưởng bên ngoài trong hai thập kỷ qua gần như vô ích.

“Không có gì mới mẻ”

Đúng. Gần đây, các sử gia như A.G. Hopkins đã tranh cãi về toàn cầu hóa và cho rằng, toàn cầu hóa bùng nổ trong thập niên 1990 là sự tiếp nối quá trình lâu dài từ khi loài người cận đại bắt đầu di cư. Họ cũng nhấn mạnh rằng toàn cầu hóa gắn liền với sự xuất hiện của tàu hơi nước, tàu chở hàng công-te-nơ, báo in, điện báo, điện thoại rồi Internet…

Tuy nhiên, làn sóng toàn cầu hóa hiện tại lại có những đặc trưng chưa có tiền lệ. Khi Internet thâm nhập mọi ngõ ngách trên toàn cầu, nó thay đổi hầu hết đời sống của nhiều người hơn, nhiều địa điểm hơn…

Sự toàn cầu hóa cũng đang được cá nhân hóa hơn bao giờ hết. Điện tín chủ yếu được sử dụng ở các cơ quan nhưng Internet là công cụ cho phép phụ nữ Tây Ban Nha tìm triển vọng kết hôn ở Argentina, thiếu niên Nam Phi cùng chia sẻ đĩa nhạc với bạn bè ở Scotland.


“Không còn là Mỹ hóa”

Điều đó chưa bao giờ xảy ra. Đối với những người chỉ trích, toàn cầu hóa thực chất là một dự án của người Mỹ nhằm mở rộng sự thống trị kinh tế, văn hóa và quân sự của Mỹ.

Thật khó để bảo vệ ý kiến rằng toàn cầu hóa là con đường một chiều thiết kế để tuyên truyền các giá trị và lợi ích của Mỹ. Thực tế, sự thay đổi do toàn cầu hóa tạo ra những kẻ thù mới chống lại tư tưởng bá quyền của Mỹ trên nhiều phương diện rộng lớn hơn. Al Qaeda và Taliban là “khắc tinh” đối với lực lượng quốc phòng của Mỹ. Những lợi thế do toàn cầu hóa đưa lại như du lịch, giao thông và truyền thông thuận tiện; tự do hóa kinh tế và biên giới mở cũng làm cho các chiến binh này thêm linh động và có được nguồn tài chính dồi dào. Nguồn của cải giàu có của châu Á và Trung Đông đang dần lấn át các ngân hàng Mỹ; sự thành công của các nhà làm phim Ấn Độ và các nhà sản xuất phim truyền hình Mỹ Latinh lung lay vai trò thống trị Hollywood trên thị trường giải trí toàn cầu…


“Nền chính trị của các cường quốc quay trở lại”





Điều đó chưa bao giờ mất đi. Trở lại thập niên 1990, một quan điểm thống trị về toàn cầu hóa cho rằng sự bùng nổ thương mại giữa các quốc gia là “liều thuốc giải độc” tốt nhất cho chiến tranh. Thương mại quốc tế được xem như một lực lượng bù đắp mạnh mẽ chống lại sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc. Nhờ những phát minh công nghệ thông tin, viễn thông và giao thông, khoảng cách địa lý không còn là vấn đề quan trọng trong việc định hình nền kinh tế và chính trị thế giới. Quyền lực sẽ có sự chuyển đổi từ chính phủ sang lĩnh vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ.

Những ý tưởng này, phổ biến trong các bài báo và sách như Sự kết thúc của lịch sử (The End of History), Cái chết của khoảng cách (The Death of Distance) và Chiếc Lexus và cây ô liu (The Lexus and the Olive Tree), được chấp nhận rộng rãi trong thập niên 1990. Rồi xảy ra cuộc tấn công 11/9/2001. Mô hình chính phủ nhỏ gọn trở nên lỗi thời và người ta hướng tới một chính phủ có thể đảm bảo an ninh cho người dân. Khủng hoảng tài chính đã củng cố quan điểm này. Chính sách tư nhân tự do kinh doanh, nhà nước không can thiệp bị đánh bật và các chính phủ năng động quay lại.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng sự trở lại của các chính phủ lớn và chủ nghĩa dân tộc là phóng đại. Trung Quốc có thể tập hợp với Nga để đối trọng với Mỹ trong vấn đề Iran nhưng trong khi đó, nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc lại phụ thuộc chặt chẽ vào nhau (Trung Quốc là chủ nợ hơn 1.000 tỉ USD của Mỹ và Mỹ là điểm đến chính của hàng xuất khẩu Trung Quốc). Thủ tướng Nga Vladimir Putin nói nhiều đến sự phục hồi vị trí quốc tế của nước này và thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ nhưng bản thân Nga sẽ không tự mình chống đỡ được cơn bão tài chính. Tổng thống Venuezuela Hugo Chávez cũng đang phải gạ gẫm các công ty dầu khí nước ngoài quay lại.

Như thế, chủ nghĩa dân tộc chưa bao giờ biến mất. Toàn cầu hóa không làm giảm bớt bản sắc dân tộc, chỉ làm phức tạp thêm.

“Là đặc quyền của người giàu”

Hãy xem xét trường hợp của người Ấn Độ, hoặc là người Trung Quốc hay các tầng lớp trung lưu đang nổi ở Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và rất nhiều quốc gia đã thành công nhờ có sự bùng nổ của đầu tư và thương mại quốc tế. Đến khi cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra vào cuối năm 2008, tầng lớp trung lưu ở các nước nghèo là bộ phận phát triển nhanh nhất của thế giới.

Xu hướng này rõ ràng sẽ chậm, và ở một số quốc gia, sẽ bị đảo ngược bi thảm khi cuộc khủng hoảng tiếp tục đẩy nhiều người vào hàng ngũ người nghèo. Nhưng hai thập kỷ qua, nhiều nước đã thành công trong việc đưa hàng chục triệu người ra khỏi đói nghèo. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, tỉ lệ đói nghèo đã giảm 68% từ năm 1981 đến năm 2005.

Trung Quốc và Ấn Độ là những ví dụ điển hình nhất về sự hưởng lợi toàn cầu hóa. Nhưng oái ăm thay, hai quốc gia này cũng là những ví dụ điển hình về sự chênh lệch giàu nghèo.

Văn Hoàng
theo Foreign Policy