(DN.ODESA) – Phỏng vấn 1 Giám đốc Tinh báo: Không bao giờ có thể thống kê hết những tập sách đề cập đến Tình báo – một nghề đặc biệt. Những trang sách cuốn hút độc giả về tình báo bao giờ cũng là sự tổng hợp vốn hiểu biết phong phú tới tầm uyên bác của tác giả và kể cả người đọc. Cuộc phỏng vấn dưới dây của một nhà báo sẽ cùng độc giả tìm thêm những điều thú vị về nghề nghiệp đặc biệt này

Phỏng vấn Giám đốc cơ quan Tình báo

Phóng viên: Thưa ông, điệp viên chiến lược là gì?


Giám đốc: Có thể trả lời câu hỏi này vắn tắt như sau: là một điệp viên leo cao tới tận bộ não trung ương của đối phương, cung cấp về sở chỉ huy những tin tức có tính định hướng cực kỳ quan trọng.

Phóng viên: Ví dụ?

Giám đốc: Ví dụ như Ricsác Gióocgiơ, điệp viên Xôviết được đánh giá lớn nhất thế kỷ XX. Ông đã thông báo cho Stalin vẻn vẹn mấy câu: “Nhật Bản sẽ không tấn công Liên Xô khi Mạc Tư Khoa thất thủ”. Chính nhờ đó, Hồng quân đã rút 50 sư đoàn phòng thủ ở phía Đông quay về bảo vệ Moskva.


Phóng viên: Để làm được những điều tương tự như thế?


Giám đốc: Các điệp viên chiến lược thường phải có quá trình xâm nhập mấy chục năm, tạo ra một vỏ bọc, tức lý lịch vô cùng hoàn hảo, vượt qua nhiều cấp độ sàng lọc.

Phóng viên: Phức tạp quá!

Giám đốc: Rất phức tạp và lâu dài. Khi cài một điệp viên chiến lược, chúng ta không thể đoán trước được quy trình thăng tiến của anh ta, cũng như những mối quan hệ mà anh ta sẽ thiết lập được sau này. Cực kỳ khó đoán, do vậy cũng cực kỳ công phu.

Phóng viên: Thưa giám đốc, trên thực tế, chúng ta có những điệp viên như vậy không?

Giám đốc: Có chứ. Và tôi có thể tự hào mà nói rằng: Không phải chỉ một người.

Phóng viên: Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn là một bằng chứng?

Giám đốc: Rất đúng. Một bằng chứng. Và có một sự trùng hợp thú vị: cả Phạm Xuân Ẩn lẫn Ricsac Gióocgiơ đều là nhà báo khi hành nghề.

Phóng viên: Các điệp viên chiến lược có đặc điểm gì?

Giám đốc: Do hoạt động vài chục năm một cách hợp pháp trong lòng kẻ thù, họ thường gần như vĩnh viễn xa gia đình, đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ. Sự hy sinh của họ, về mặt tình cảm, là vô bờ.

Phóng viên: Còn về công tác?

Giám đốc: Các điệp viên chiến lược không bao giờ được phép mạo hiểm vì một nhiệm vụ “chiến thuật”. Họ không phải là biệt kích. Đơn giản có vậy. Đối với họ, dự một cuộc họp còn quan trọng hơn đốt một kho hàng.


Phóng viên: Tôi hiểu.

Giám đốc: Nhưng tôi bật cười khi có một số nhà văn viết truyện tình báo của chúng ta không chịu hiểu như vậy.

Phóng viên: Lý do?

Giám đốc: Họ bị thôi thúc phải có sự ly kỳ. Trong khi công việc của một nhà tình báo chiến lược đầy nguy hiểm nhưng không ly kỳ. Các nhà tình báo ấy không bắn súng, không phóng dao, mà chỉ lắng nghe, đọc hay phân tích.


Phóng viên: Điều ấy có lợi cho công tác, nhưng không có lợi cho… sự hấp dẫn.

Giám đốc: Đúng. Các nhà văn và cả người đọc cần hiểu một thực tế: sách về các nhà tình báo chiến lược là những cuốn sách thiên về trí tuệ hơn hành động.

Phóng viên: Đơn giản.

Giám đốc: Không hề đơn giản. Đã hình thành một thói quen cố hữu: hễ sách tình báo là phải… giật gân. Nếu nhân vật không có giật gân thì ta cố ép.

Phóng viên: Chẳng hạn?

Giám đốc: Chẳng hạn như tiểu thuyết “X30 phá lưới”. Tôi đọc nó và tôi vừa tiếc vừa buồn cười.

Phóng viên: Tại sao?

Giám đốc: Tại các tác giả xây dựng nhân vật Phan Thúc Định rất hay, nhất là quá trình anh ta xâm nhập gia đình Ngô Đình Diệm. Nhưng đến khi miêu tả các hành động tình báo của điệp viên này thì thật đáng thất vọng. Một điệp viên tầm cỡ như thế mà chỉ để báo về sở chỉ huy kế hoạch của một trận càn có tính địa phương? Đúng là đầu voi đuôi chuột.

Phóng viên: Tiếc thật. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là một cuốn sách hư cấu.


Giám đốc: Tất nhiên. Nếu không hư cấu thì điệp viên X30 và người chỉ huy trực tiếp của anh ta chắc chắn sẽ bị kiểm điểm tơi bời. Nhưng tôi chỉ nêu ra ví dụ trên để nói rằng viết sách về một điệp viên chiến lược rất khó khăn, thậm chí khó khăn chẳng kém gì việc cài điệp viên đó.


Phóng viên: Nói cách khác, viết về một điệp viên chiến lược phải là một nhà văn có tầm nhìn chiến lược?

Giám đốc: Chính xác. Nhà văn đó phải có tính khái quát rộng lớn, cung cấp cho người đọc toàn bộ bối cảnh mà điệp viên đang sống và phân tích được các nguồn thông tin của anh ta cho bạn đọc thấy chúng quan trọng thế nào cho việc hoạch định chính sách của Trung ương. Nhà văn không được để sự giật gân, sự hồi hộp cám dỗ bởi các điệp viên chiến lược đều là trí thức chứ không phải các chuyên gia về ám sát hay chất nổ.

Phóng viên: Cuối cùng, thưa giám đốc, một cơ quan tình báo được coi là tầm cỡ khi nào?


Giám đốc: Khi số lượng điệp viên của nó vừa nhiều vừa hiệu quả, khi nó biết trước được các ý đồ của đối phương trên diện sâu và rộng, chứ không phải nó tiến hành thành công vài chiến dịch con con.

Phóng viên: Giám đốc có thể đưa ra một cuốn sách về tình báo có tính trí tuệ mà ông thích không?

Giám đốc: Có chứ. Đấy là cuốn “TASS được quyền tuyên bố”. Một cuốn sách tuyệt vời để Thông tấn xã Liên Xô có thể đưa ra vài câu khẳng định ngắn gọn với thế giới, đã có công sức của biết bao nhân viên tình báo

Phóng viên: Thưa ông, nghề điệp viên là một nghề rất nguy hiểm?

Giám đốc: Rõ ràng, nếu không muốn nói là nguy hiểm nhất.

Phóng viên: Tại sao, thưa ông?

Giám đốc: Điệp viên có thể bị lộ vì những lý do rất ngẫu nhiên, hoặc vì một sự sơ hở mà anh ta không hề chịu trách nhiệm.

Phóng viên: Ví dụ?


Giám đốc: Ví dụ như trong phim “Mười bảy khoảnh khắc của mùa xuân” có một chi tiết rất hay. Nữ điệp viên Xôviết cả đời chỉ nói tiếng Đức, nhưng nằm trên giường bệnh viện ở Béc-lin để sinh con thì do bản năng cô đã kêu bằng tiếng Nga.

Phóng viên: Còn trong thực tế?


Giám đốc: Thực tế, các tình báo viên lại ít khi bị bắt khi sao chụp tin tức, vì do địa vị, họ có thể tiếp xúc với chúng khá dễ dàng. Khâu yếu nhất chính là khâu chuyển tin về trung ương.

Phóng viên: Chuyển tin?

Giám đốc: Ừ. Về cơ bản, điệp viên có mấy cách sau đây: 1- Dùng điện đài; 2- Dùng hộp thư chết; 3- Dùng liên lạc viên.

Phóng viên: Trong ba cách đó?

Giám đốc: Điện đài có ưu điểm là nhanh nhất. Tin tức được chuyển tức thời. Nhưng ngày nay các máy móc định vị đã phát triển tới mức hầu như các điện đài có phát sóng không đăng ký sẽ bị định vị ngay lập tức.

Phóng viên: Không có cách khắc phục nào ư?

Giám đốc: Có, nếu như cho đài phát sóng đó di chuyển, chẳng hạn như trong một chiếc xe. Nhưng như thế lại vấp phải những rủi ro kiểu khác.

Phóng viên: Khó thực.

Giám đốc: Chưa kể các bức điện đều mã hóa. Nếu đối phương giải được mã thì nguy hiểm vô cùng.

Phóng viên: Điều ấy đã xảy ra?

Giám đốc: Rất nhiều. Việc chặn bắt các bức điện và giải mã chúng, có tên gọi “tình báo điện tử”, hiện nay phát triển tới mức có thể coi như một ngành riêng.

Phóng viên: Còn hộp thư chết?

Giám đốc: Thực chất là một vật thể sống, nơi điệp viên có thể bỏ hoặc nhận các chỉ thị. Ưu thế của nó là người gửi và người nhận không biết mặt nhau, không thể khai ra nhau khi họ bị bắt. Nhược điểm của nó là dễ lộ nếu đối phương theo dõi trực tiếp, chưa kể hộp thư bị lộ hoặc bị phá hủy vì yếu tố ngẫu nhiên.

Phóng viên: Cách thứ ba?

Giám đốc: Tức dùng người liên lạc. Nếu người đó bị bắt hay phản bội, sự nghiệp của điệp viên kết thúc. Để tránh rủi ro, các điệp viên chiến lược thường chỉ có một liên lạc viên duy nhất, suốt đời.

Phóng viên: Còn những cách chuyển tin khác không?


Giám đốc: Còn. Có thể gửi tin qua bưu phẩm chính thức, qua đường ngoại giao… có thể thu nhỏ một cuộn phim thành ra như cái chấm dán dưới một con tem… Nhưng không có gì tuyệt đối.

Phóng viên: Trong khi…?

Giám đốc: Trong khi nhu cầu của tình báo viên là gửi điện thật nhanh, thật nhiều tin tức về Trung ương. Một điệp viên mà không gửi được tin tức về, cũng chẳng khác nào một con cá chết.

Phóng viên: Tin tức tình báo thật đáng giá.

Giám đốc: Nhưng việc xử lý nó phải hết sức thận trọng. Nếu đối phương biết ta nắm tin gì, có thể dùng phương pháp loại trừ rồi truy ra kẻ tiết lộ nguồn tin, tức tình báo viên.

Phóng viên: Xin ông nói rõ điều này?

Giám đốc: Tin tức càng giá trị, số lượng người được biết càng ít. Khi nó lộ ra, đối phương sẽ theo dõi, rà soát lại từng người một. Do đấy, phải biết mà làm như không biết.

Phóng viên: Ví dụ?

Giám đốc: Trong cuộc chiến Thái Bình Dương, tình báo Mỹ đã giải được mật mã của hải quân Nhật Bản. Do đó, họ biết chuyến công tác của Tư lệnh Hạm đội hỗn hợp Nhật, Đô đốc Yamamoto di chuyển bằng máy bay.

Phóng viên: Rồi sao?


Giám đốc: Mỹ đã cho rất đông phi cơ chiến đấu chặn đánh, bắn rơi phi cơ chở Tư lệnh Nhật, giết chết ông ta. Nhưng hôm sau, một đoàn máy bay Mỹ vẫn bay theo hướng đó, mục đích nhằm đánh lừa người Nhật rằng trận đụng độ ngày trước chỉ là ngẫu nhiên. Mỹ không muốn Nhật đoán ra mật mã đã bị lộ.


Phóng viên: Việt Nam có như vậy không?

Giám đốc: Có. Nhưng hơi khác một chút. Vào giữa những năm 60, ta đã bắn rơi một máy bay C47 của Mỹ chở biệt kích nhảy dù xuống miền Bắc, tiêu diệt toàn bộ.

Phóng viên: Tuyệt.

Giám đốc: Sau đó, Bộ Quốc phòng ra thông báo khen thưởng đơn vị cao xạ đã lập công. Nhưng thật ra làm gì có cao xạ ở đây. Chiếc C47 đã bị một phi cơ của ta bắn hạ. Bộ chỉ huy làm như vậy để địch không biết ta đã có không quân tuần tra đêm…

LVT