Bài viết của tiến sĩ kinh tế Phạm Đỗ Chí, nguyên chuyên viên kinh tế cấp cao IMF, giáo sư thỉnh giảng của một số trường Đại học Mỹ, kinh tế gia trưởng của quỹ Vinacapital, về tiềm năng của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Trong thời kỳ toàn cầu hoá, để rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian, rất cần có sự huy động sức mạnh tổng hợp. Những nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Ixraen đã rất thành công khi quy tụ được sức mạnh của các cộng đồng kiều bào. Với Việt  Nam, cần sự góp tay của người Việt ở nước ngoài trong thời buổi hội nhập cho nỗ lực phát triển của đất nước.   

Trong hai năm 2001 và 2002, lượng tiền của người Việt chuyển về nước đạt lần lượt 1,75 và 2,15 tỷ USD; đến hai năm 2003-2004 con số này đã lên đến con số 3 tỷ USD hàng năm; tăng vọt lên 5 tỷ USD vào các năm 2006-2007 và 8 tỷ USD vào năm 2008. Tổng cộng lượng kiều hối có thể lên tới 38 tỷ USD trong hai thập niên vừa qua, vượt xa tổng vốn FDI thực hiện và vốn ODA giải ngân trong cùng thời gian. Con đường chuyển về nhiều nhất vẫn là qua các ngân hàng như Đông Á, Vietcombank, Sacombank và Eximbank… Chắc chắn trên thực tế lượng tiền còn lớn hơn do số tiền mang về trực tiếp trong những lần họ về du lịch thay vì chỉ gửi qua ngân hàng. Một thực tế là trong khi Việt   Nam   nói nhiều đến đầu tư nước ngoài và dành nhiều công sức để thu hút thì nguồn lực dồi dào từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài lại chưa được đánh giá hết tiềm năng để có chính sách thích ứng. Con số kiều hối hàng năm tuy lớn nhưng chỉ thật sự phản ánh một phần nhỏ tiềm lực của họ.   


Xu thế toàn cầu hoá về sức mạnh cộng đồng    

Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng nhanh chóng, sâu rộng như hiện nay, công nghệ mới xuất hiện, khoảng cách được rút ngắn lại, yếu tố địa lý trong kinh doanh giảm dần ý nghĩa, tính liên kết tăng lên mạnh mẽ đã dẫn đến tính “mạng” trong kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng. Ngày nay có một xu thế là khi người ta nói đến nền kinh tế Trung Quốc, họ thường không chỉ giới hạn trong đại lục mà còn bao gồm cả cộng đồng người Hoa trên khắp thế giới. Đúng như John Naisbitt nhận định, “nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ Đài Loan và Hồng Công là một bộ phận của Trung Quốc. Giờ chúng ta phải mở rộng ranh giới của một Trung Quốc rộng lớn hơn để bao gồm cả những người gốc Hoa sinh sống ở Xinhgapo, Inđônêxia, Malaixia…. đầu não của mạng lưới này là số đông các tỷ phú tự lập như Liem Sioe Liong, Robert Kuok, Dhanin Chearavanont….”.

Trung Quốc cũng đang thực hiện chiến lược phát huy tiềm năng của Hoa Kiều trong phát triển kinh tế thông qua thu hút chất xám, thu hút đầu tư và lấy chính những Hoa Kiều làm cầu nối để đưa hàng hoá xâm nhập thị trường quốc tế. Charles Zhang, tốt nghiệp khoa Vật lý Viện Công nghệ Massachusetts tiên đoán: “Nếu hôm nay chúng ta nhìn lại 100 năm phát triển qua, chúng ta có thể thấy thời kỳ này tương tự như thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu hay Minh Trị ở Nhật Bản.” Các quan chức của chính phủ đã tiếp đãi trọng thể các học giả và đã xây dựng hơn 70 công viên kinh doanh cho họ làm việc. Một trong số đó là công viên Zhongguancun, gần Bắc Kinh, được biết đến như Thung lũng Silicon của Trung Quốc. Các học giả này khi quay trở lại Trung Quốc làm việc có thể được miễn thuế thu nhập, có không gian thuận lợi làm việc, được cấp khả năng vay mượn cũng như có thể tư vấn cho bộ máy hành chính cấp địa phương.   

Nghĩ đến cộng đồng người Việt ở hải ngoại    



Khó có con số chính xác về thu nhập của 3 triệu người gốc Việt. Tuy nhiên, nếu dựa trên lý luận là đa số đồng bào gốc Việt ở nước ngoài đang cư trú ở các nước có thu nhập cao như Bắc Mỹ và Tây Âu, tạm dùng con số thu nhập mỗi năm là 5 nghìn USD một đầu người, thì 3 triệu người Việt ở hải ngoại có thu nhập hàng năm là 15 tỷ USD, con số ước tính tạm nhưng là quá nhỏ và thiếu chính xác.    

Con số thu nhập tổng cộng này không tương xứng với số tiền gửi chính thức về quê hương hàng năm là 5 tỷ USD (mức quân bình trong mấy năm gần đây nhất), tức là mức gửi lên tới 33% của thu nhập ước tính trên từ bên ngoài; con số gửi về này quá cao so với tiền tiết kiệm bình thường trong đời sống Âu-Mỹ.    

Để tính toán một cách sát thực tế hơn, giả thiết là số tiền gửi bằng 10% tiền kiếm được, thì thu nhập tổng cộng của khối người Việt ở hải ngoại có thể lên tới 50 tỷ    USD, bằng hơn nửa tổng sản lượng quốc dân của Việt Nam (ước tính ở mức 90 tỷ USD hiện nay), và họ gửi về nhà khoảng 5 tỷ USD theo số liệu chính thức. Đây là một con số đáng kể cho một cộng đồng di dân mới thuộc về thế hệ thứ nhất và thứ hai.    

Từ GDP đến GGP    

Nếu chúng ta thử đề nghị một định nghĩa mới cho hệ thống kế toán tài khoản quốc gia là Tổng sản phẩm toàn cầu của một nước (Gross Global Product-GGP) cho Việt Nam, Ixraen, Ấn Độ hay Trung Quốc là những nước có nhiều di dân ở ngoài lãnh thổ quốc gia, thì chúng ta sẽ có 3 định nghĩa sau đây về tổng sản phẩm cho một nước, thí dụ là Việt Nam:   

 

 • Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product–GNP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt   Nam   sản xuất bất kể trên lãnh thổ quốc gia mình hay ở các nước khác.   

 

•  Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product–GDP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ người dân của Việt  Nam  hay của nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt   Nam.   

• Tổng sản phẩm toàn cầu (Gross Global Product-GGP): tổng giá trị gia tăng của các hoạt động sản xuất và dịch vụ do người dân của Việt Nam hay người dân của nước khác sản xuất trên lãnh thổ quốc gia Việt    Nam, hay do các kiều bào gốc Việt sản xuất trên lãnh thổ các nước khác.                                                               

Nếu tính như vậy thì trong khi tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam là 90 tỷ USD cho 86 triệu người Việt trên lãnh thổ quốc gia vào năm 2008, tổng sản phẩm toàn cầu của Việt Nam sẽ    là 140 tỷ USD cho 89 triệu người Việt ở cả trong và ngoài nước. Con số này có ảnh hưởng lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt   Nam. Nhưng câu chuyện không chỉ ngưng ở đó. Tiềm năng của người Việt ở ngoài nước còn lớn hơn, họ không chỉ đóng góp nhiều “chất xanh” cho GGP của Việt Nam mà còn đóng góp về chất xám.   

Trình độ giáo dục cao, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng quản lý, tiếp cận với công nghệ mới… là nguồn tài nguyên, kiến thức rất lớn đối với một quốc gia. Thành phần đội ngũ đáng kể nhất là khối đông doanh nhân, chuyên viên trung niên ở tuổi 40-50 và giới chuyên viên mọi ngành, nhất là nhóm kỹ thuật gia trẻ, lứa tuổi 25-35 đang có mặt trong nhiều hãng xưởng ở trên 150 nước trên thế giới. Họ là những người có thu nhập cao nhất và là khối đông thầm lặng có trọng lượng trong cộng đồng hải ngoại và cũng giữ tiềm năng lớn với các đóng góp tương lai cho một Việt   Nam   rộng mở hơn ra bên ngoài. Điển hình của thành công về kỹ thuật là sự có mặt quan trọng của giới chuyên viên gốc Việt ở các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học Pháp, ở Thung Lũng Silicon (Mỹ) hay trong các hãng tài chính lớn ở khu tài chính quốc tế Phố Uôn. Trong tương lai gần, họ có thể đóng góp lớn cho đất nước trong hai địa hạt quan trọng: gây dựng công nghiệp thông tin (vốn được coi là một mũi nhọn phát triển) và khởi động lại thị trường tài chính–sẽ là đề tài quan trọng cho việc huy động nguồn vốn nội địa để phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân qua cổ phần và giải quyết nạn đầu cơ nhà đất do tình trạng quá dư thừa vốn trong nước nhưng “không có chỗ thoát hiệu quả.”   

Ngoài ra, họ còn là các đại diện thương mại hữu hiệu để xâm nhập thị trường quốc tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, nếu kêu gọi được sự cộng tác của những người gốc Việt ở nước ngoài thì cộng đồng này sẽ là phương tiện hiệu quả nhất để tăng “thương vụ” cho hàng Việt Nam. Thật vậy, khó ai trong 5-10 năm có thể gửi ra ngoài một nhóm đại diện thương mại cả mấy trăm nghìn người sinh sống trên hơn 150 nước với khả năng ngôn ngữ thông thạo cũng như quen với tập tục văn hóa của từng xứ.   

Và sau cùng, nếu đã quan niệm được sự đóng góp như trên của mọi người gốc Việt trên toàn cầu, Việt Nam sẽ không cần lo ngại đến hiện tượng “chảy máu chất xám” vẫn được bàn đến mỗi khi đề cập số lớn sinh viên Việt Nam du học hàng năm và chưa trở về quê hương ngay sau khi học xong. Lý do là họ vẫn tiếp tục đóng góp vào Tổng sản phẩm toàn cầu (GGP) của Việt   Nam   hiện là trên 140 tỷ USD.

Phamxuan
theo TTXVN