Nền kinh tế đang rơi vào tình trạng bế tắc bởi cơn bão khủng hoảng tín dụng khởi nguồn từ nước Mỹ. Trong hoàn cảnh khó khăn, nhà đầu tư hãy đọc lại một số lời khuyên từ nhà đầu tư cá nhân tài ba có tên Jim Slater.

Jim Slater được đánh giá là người có những lời khuyên ảnh hưởng nhất đối với những nhà đầu tư tư nhân nhỏ. Ông nhấn mạnh rằng nhà đầu tư nhỏ có thể trở thành những chuyên gia đầu tư trong một hoặc hai lĩnh vực của thị trường.

Ông có lẽ là “giáo sĩ” đầu tư đầu tiên ở Anh, khuyên rằng nên tìm kiếm những cổ phiếu có chỉ số P/E thấp. Theo ông, nhà đầu tư nhỏ, bình dân có một số lợi thế so với những nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp.

Trước tiên, nhà đầu tư nhỏ có ít tiền để đầu tư hơn nên họ có thể đầu tư với hiệu quả cao hơn vào những công ty nhỏ hơn. Thứ hai, các nhà đầu tư nhỏ khó có khả năng đầu tư vào hơn 10 công ty.

Điều này có nghĩa là họ có thể chọn ra được các công ty tốt nhất thuộc top 10. Nếu so sánh thì các nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ có một danh mục đầu tư lớn hơn nhiều và không thể tránh khỏi trong số đó có những công ty không phải là thuộc nhóm tốt nhất.

Phần lớn lời khuyên của Slater trong các cuốn sách của mình có ý nghĩa thông dụng. Ông khuyên nên đầu tư vào các công ty có lợi thế cạnh tranh. Điều này có thể có từ một thương hiệu tốt hoặc bản quyền sở hữu trí tuệ như của các công ty dược phẩm trong một số loại thuốc. Một khi nhà đầu tư đã xác định được một công ty với lợi thế cạnh tranh rồi thì anh ta nên nhìn vào công ty có tốc độ phát triển nhanh.

Ông định nghĩa công ty có tốc độ phát triển nhanh là công ty có tốc độ tăng cổ tức trên mức trung bình. Ông cũng cho rằng công ty nào có thể “nhân bản” một hoạt động kinh doanh nào đó, ví dụ như cửa hàng, tiệm ăn, nhà dưỡng lão là công ty có triển vọng tốt.

Slater đồng ý rằng rất khó để đánh giá năng lực quản lý của các công ty, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nhỏ vì nhiều công ty thuê những chuyên gia tham mưu để đánh bóng họ lên.

Vì vậy, ông gợi ý nên bắt đầu bằng một số phép tính số học.

Những nguyên tắc chính là:

– Mỗi năm trong 5 năm qua phải có lãi. Không năm nào có lỗ.

– Nếu trong vòng 5 năm trước công ty có lợi nhuận sụt giảm tại năm nào đó thì nó phải đạt được mức cổ tức cao nhất trong năm gần nhất. Điều này chứng tỏ công ty đang thật sự có động lực để tăng trưởng.

– Cổ phiếu bất động sản được loại trừ vì chúng phụ thuộc vào sự biến động của giá bất động sản chứ không phải là vào tăng trưởng nội lực. Một bất động sản có thể tăng về giá trị nhưng sự tăng này rất có thể không phải là do tài năng quản lý.

– Phải nhận được đánh giá tích cực của các nhà môi giới về triển vọng phát triển. Ưu điểm của phương pháp này là nhà đầu tư có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác. Kỹ thuật của Buffett và Soros xác định được cái mà không ai khác biết được – hoặc là giá trị ẩn tàng, hoặc là một xu hướng chưa được nhận biết trên thị trường – đòi hỏi ít nhất phải có những nghiên cứu chuyên sâu, và có lẽ phải có thêm cả tiếp cận đến những thông tin mà nhà đầu tư nhỏ khó có thể tiếp cận được.

– Slater thận trọng với những công ty trong những ngành có tính chu kỳ như xây dựng và kiến thiết. Để được coi là cổ phiếu có triển vọng phát triển thì chúng vẫn phải thỏa mãn được các chỉ tiêu nêu trên.

– Cuối cùng, Slater khuyên nên nhìn vào tốc độ tăng trưởng P/E thay vì bản thân chỉ số P/E (với một số giải thích và chuẩn mực cụ thể).

Một lời khuyên có ý nghĩa khác của ông là nên tránh những công ty mà chủ tịch của chúng sống quá hào nhoáng. Biển số xe “thửa” là một dấu hiệu xấu. Cũng là một dấu hiệu xấu nếu ông chủ tịch đoạt được nhiều quyền lợi trong một câu lạc bộ bóng đá. Thâu tóm cá nhân (và/hoặc tự tôn) lớn thì lợi nhuận sẽ nhỏ.

Jim Slater bắt đầu trở thành tâm điểm chú ý vào những năm 1960 với mục lời khuyên đầu tư trên một tờ báo. Trong đó Jim tập trung vào các công ty nhỏ nhưng đang có tốc độ tăng trưởng nhanh và các công ty hiện đang bị đánh giá thấp.

Chính hướng đi này đã khiến danh mục đầu tư của mình sinh lời đến 70% chỉ trong vòng ba năm 1963 – 1965. Cũng trong cùng thời gian này, tốc độ tăng trưởng của thị trường chỉ dừng lại ở con số khiêm tốn 3,6%.

Khi mà tốc độ tăng giá bình quân hàng năm của thị trường chứng khoán là 4,4% thì suốt 10 năm liền (1994-2004) cách làm của Slater chỉ đem lại cho ông 24,5% lợi nhuận.

Điều đó không có nghĩa phương pháp Slater chỉ là ngôi sao băng vụt qua rồi vụt tắt. Cho đến nay, Slater vẫn được mệnh danh là ông vua của các nhà đầu tư nhỏ và chiến lược đầu tư của ông vẫn đáng đế chúng ta xem xét.

Chiến lược số 1: Tìm kiếm các cổ phiếu tăng trưởng tiềm năng

Slater tập trung vào các công ty nhỏ bởi theo ông “Voi không thể phi nước đại” – các công ty lớn rất khó có thể có tốc độ tăng trưởng nhanh. Để tìm kiếm được một cổ phiếu tăng trưởng tiềm năng ở mức giá rẻ như vậy, Slater lần đầu tiên đưa ra tỉ lệ PEG (the price to earnings growth ratio). Tỉ lệ PEG là tỉ lệ được sử dụng để định giá một cổ phiếu khi tính đến tốc độ tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu đó.

Công thức tính tỉ lệ PEG như sau:

Tỉ lệ PEG = (P/E) / Tốc độ tăng trưởng thu nhập cổ phiếu

Khi tính toán tỉ lệ PEG, người ta có thể sử dụng thu nhập của năm trước hoặc thu nhập dự kiến của năm tới, nhưng tốc độ tăng trưởng được sử dụng luôn là tốc độ tăng trưởng ước tính của năm tới, nó phụ thuộc vào dự đoán và ý đồ của công ty đó và các nhân tố khách quan khác như điều kiện thị trường, sự cường điệu của các nhà đầu tư…

PEG là chỉ số được sử dụng rộng rãi để tính toán giá trị tiềm năng của một cố phiếu. Các nhà đầu tư ưa dùng PEG hơn là P/E bởi vì nó đã tính đến tốc độ tăng trưởng dự kiến của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý là tỉ lệ PEG không thể sử dụng độc lập được mà phải được kết hợp với các thông tin bổ sung khác để có được một cái nhìn rõ ràng về triển vọng đầu tư của một công ty.

Tỉ lệ PEG thấp hơn 1 có nghĩa là triển vọng phát triển của một công ty đang bị đánh giá thấp hơn thực tế, và ngược lại tỉ lệ PEG cao hơn 1 đồng nghĩa với nền kinh tế đang kì vọng quá nhiều về tốc độ tăng trưởng trong tương lai của công ty đó. Do vậy, tỉ lệ PEG đem đến cho các nhà đầu tư “khoản lợi nhuận an toàn”


Chiến lược thứ 2: Nhìn vào tốc độ tăng trưởng thu nhập

Căn cứ theo những kinh nghiệm và nghiên cứu cá nhân, Slater cho rằng thông thường, các công ty khoác lác tốc độ tăng trưởng thu nhập của mình trong bốn năm liên tiếp trước khi những con số này được tìm ra một cách chính thức. Nếu tăng trưởng lợi nhuận của một công ty vượt quá 25%/năm thì các nhà đầu tư phải rất thận trọng bởi tốc độ chóng mặt đó thường đồng nghĩa với sự phát triển không bền vững.


Chiến lược thứ 3: Kiểm tra lại các màn trình diễn xuất sắc

Slater thường xuyên tự kiểm tra lại xem lợi nhuận của công ty có được hỗ trợ bởi một dòng vốn ổn định hay không khi cổ phiếu của công ty đang có những màn trình diễn nổi bật trên sân khấu thị trường chứng khoán. Đây cũng là dấu hiệu khiến cho rất nhiều nhà đầu tư “nhanh chóng lầm tưởng” rằng đó là cổ phiếu mạnh và tăng mức độ tín nhiệm của mình lên.


Chiến lược thứ 4: Quan sát thái độ của các lãnh đạo công ty (directors’ dealings)

Một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong chiến lược đầu tư của Slater chính là tình hình mua vào bán ra số cổ phiếu mà các trùm sò của công ty đang nắm giữ. Nếu cổ phiếu đang mất giá do hoạt động của công ty đang theo đà tụt dốc thì có một khả năng rất cao là chính bộ máy lãnh đạo công ty sẽ là những người đầu tiên bán ra. Slater nói: “chôn sống’ những cổ phiếu bắt đầu mất giá của bạn ngay khi có những dấu hiệu rắc rối đầu tiên để lợi nhuận được tiếp diễn” – thế nhưng các nhà đầu tư trên thị trường lại thường làm điều ngược lại.

 

Về lý lịch của nhà đầu tư cá nhân tài ba

Jim Slater có tên đầy đủ là James Derrick Slater, sinh ngày 13/3/1929 và từng là một kế toán tại công ty Leyland Motors.

Ông trở nên nổi tiếng khi viết ra công thức đầu tư được đăng trên tờ The Sunday Telegraph. Vào năm 1964 ông bắt đầu đầu tư vào một công ty cùng với Peter Walker, trên thực tế nó là một ngân hàng ủy quyền. Sau đó ông thực hiện xây dựng nó như một liên hiệp công ty. Jim là bạn và là một liên minh kinh doanh với James Goldsmith.

Jim Slater hiện là tác giả của nhiều cuốn sách hướng dẫn đầu tư và những câu chuyện của thiếu nhi.

Hà Anh