“Đỉnh Trường Sơn như nóc nhà. Một cơn mưa to cũng có thể biến những thung lũng dưới chân núi thành những ‘túi nước’ khổng lồ, gây kinh hoàng cho các chiến sĩ Trường Sơn”, thiếu tướng Võ Bẩm, người chỉ huy đầu tiên mở đường con đường này 50 năm trước, viết trong hồi ký.

Trong những câu chuyện về Trường Sơn, người ta thường nhắc nhiều đến thiếu tướng Võ Bẩm, người chỉ huy đầu tiên mở đường Trường Sơn 50 năm trước. Ông đã ra đi ở tuổi 94, trước thềm kỷ niệm 50 năm con đường huyền thoại, để lại sự tiếc nuối cho gia đình, cho những người đồng chí, đồng đội. Nhưng tên của ông sẽ mãi là một phần không thể thiếu của Trường Sơn bất tử.

7 năm gian khổ vì một Trường Sơn bất tử

Đã gần một năm trôi qua kể từ ngày thiếu tướng Võ Bẩm mất nhưng ngôi nhà cổ ở đầu phố Phan Đình Phùng, nơi ông sống suốt nửa cuối cuộc đời, vẫn đầy ắp kỷ niệm về ông. Những tấm bằng khen, huân chương chiến công hay tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ là bằng chứng cho cống hiến của ông với đất nước. Ngày ngày, bà Nguyễn Thị Thí, vợ ông, vẫn thường trầm ngâm nhìn cây gậy mà ông để lại, như  là cách để hồi tưởng về người đã khuất. Bà bảo: “Tất cả những kỷ vật của nhà tôi trong những năm tháng ở Trường Sơn tôi đều đã tặng cho Bảo tàng Trường  Sơn, chỉ giữ  lại cây gậy mà ông ấy trân trọng nhất. Nó đã theo dấu chân nhà tôi trên khắp núi rừng Trường Sơn rồi lại tiếp tục nâng bước chân ông ấy những năm tháng ốm yếu cuối đời. Chồng tôi đã nâng niu nó như nâng niu những kỷ vật về Trường Sơn”.

Thiếu tướng Võ Bẩm sinh năm 1915 ở huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), một trong những cái nôi cách mạng. Cuộc đời ông gắn liền với hai cuộc kháng chiến trường kỳ của đất nước. Sau khi người vợ đầu mất, ông xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Thí. Đầu năm 1959, khi cô con gái chung của họ chào đời cũng là lúc ông nhận nhiệm vụ của Bộ Chính trị mở một con đường dọc dãy Trường Sơn để tiếp tế, chi viện cho miền Nam. Lúc đó, đây được coi là nhiệm vụ tuyệt mật, ngay cả với vợ, người đầu gối tay ấp của mình, ông cũng không được phép tiết lộ. Bà Thí kể lại: “Thời gian đó chưa có trụ sở, ban lãnh đạo đầu tiên của Binh đoàn 559 vẫn ăn, nghỉ, bàn bạc công việc tại nhà tôi. Ngày nhà tôi vào Trường Sơn, ông ấy chỉ bảo là đi nhận nhiệm vụ mới, không biết bao giờ mới trở về. Mãi tận 7 năm sau, khi ông nhà tôi quay ra Hà Nội do bệnh tật, tôi mới được biết chuyện về con đường giao liên dọc dãy Trường Sơn”.

Cuối tháng 05/1959, Võ Bẩm cùng với đoàn công tác vào khảo sát địa hình dãy Trường Sơn từ  Quảng Bình đến vĩ tuyến 17. Cuối cùng, Khe Hó (Quảng Bình), một lạch nước sâu, nhỏ ở dưới chân dãy núi Động Nóc, được ông lựa chọn làm điểm xuất phát đầu tiên của con đường huyền thoại. Trong hồi ký của mình, ông kể: “Đỉnh Trường Sơn như một nóc nhà, nơi khởi nguồn của mọi dòng sông, suối với độ chênh rất lớn, lắm thác ghềnh. Một cơn mưa to cũng có thể biến những thung lũng dưới chân núi thành những ‘túi nước’ khổng lồ, gây kinh hoàng cho những chiến sĩ Trường Sơn”.

Vì nguyên tắc tuyệt mật, tuyến giao liên ban đầu phải hoàn toàn tránh dân. Dù con đường giao liên được mở ngay gần bản của người Pa Kô, Vân Kiều nhưng Võ Bẩm và những đồng chí, đồng đội của mình phải hoàn toàn tự  lực cánh sinh. Nguyên tắc cho mọi hành động lúc này là: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Những người lính khi đó thậm chí còn phải cải trang thành người dân địa phương, dùng xẻng để phá núi và vận chuyển hàng bằng vai. Vì thế mới có câu: “Trường Sơn xẻ dọc, rọc ngang/Xẻng tay mà viết lên trang sử hồng”.



Những người lĩnh mở đường Trường Sơn.

Nhiều kỳ tích gần như không thể tin được đã được Võ Bẩm và những người lính lập nên trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Suốt gần hai năm đầu, mọi việc vận chuyện đều được thực hiện bằng sức người. Mỗi chiến sĩ thường xuyên phải cõng 30 – 40 kg, hết trèo qua các dãy núi dựng đứng lại bơi qua các ghềnh thác trên sông. Để đẩy nhanh tiến độ vận chuyển, Võ Bẩm đã táo bạo đề nghị phương án mượn đường bên nước bạn Lào để mở con đường vận chuyện cơ giới. Ông cũng là người đầu tiên thí điểm mô hình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, khởi nguồn của con đường Hồ Chí Minh trên biển sau này. Trong một giai đoạn ngắn, hàng trăm nghìn tấn hàng hóa bao gồm súng ống, đạn dược, lương thực, thuốc men đã được vận chuyển qua dãy Trường Sơn, đi sâu vào Nam, đảm bảo chi viện kịp thời cho tiền tuyến. Đường Trường Sơn đã trở thành con đường chiến lược dẫn đến chiến thắng mùa xuân năm 1975.

Dù là chỉ huy của cả một binh đoàn lớn nhưng với những người lính dưới quyền, ông cư xử như một người đồng chí, đồng đội bình thường: gần gũi, sẻ chia và đầy yêu thương. Ông đã leo qua những dãy núi khắc nghiệt trên dãy Trường Sơn nhiều không kém bất cứ người lính nào, túc trực ngày đêm cùng đồng đội ở những điểm nóng, bất chấp tai hoạ rình rập. Trong những năm tháng ở Trường Sơn, ông từ chối mọi tiêu chuẩn, chế độ dành cho chỉ huy để cùng chia sẻ với anh em mớ rau rừng hái vội hay lon thịt hộp chỉ bé bằng lòng bàn tay. Những người lính mở đường Trường Sơn năm ấy nhiều lúc đã quên ông là chỉ huy của mình. Với họ, ông không khác gì một người anh cả nhân từ  và quả cảm.  Có lần Võ Bẩm ốm, một người lính tên Hồ Lệ đã lén mang quần đi đổi một con gà về bồi dưỡng cho ông. Con gà già không thể nào nhai được, anh em phải ninh nhừ với cháo. Dù không ngon nhưng nghĩa tình đồng đội trong những năm tháng ấy đã là nguồn sức mạnh giúp ông vượt qua bệnh tật, chiến đấu với bom đạn, với khí hậu khắc nghiệt của Trường Sơn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở đường.

Trong những ngày cuối cùng sống trên đỉnh Trường Sơn, Võ Bẩm bị xuất huyết não. Nhưng nằm trên giường bệnh, ông vẫn cố giữ cho đầu óc mình tỉnh táo nhất để chỉ đạo mọi hoạt động của đường Trường Sơn. Ngày ông nhận quyết định ra Hà Nội chữa bệnh, tất thảy những người lính ở đường Trường Sơn đều nghẹn ngào. Hơn bất cứ ai, họ mong ông sớm lành bệnh, nhưng sự thiếu vắng ông trên con đường máu lửa là nỗi trống vắng không gì bù đắp được trong trái tim những người lính đã cùng nhau vào sinh ra tử.


Khao khát thăm lại Trường Sơn



Bà Nguyên Thị Thí bên cây gậy Trường Sơn của thiếu tướng Võ Bẩm.

Người ta chỉ biết đến những chiến công oai hùng của Võ Bẩm trong việc mở đường Trường Sơn nhưng ít ai biết rằng, đằng sau đó là những hy sinh thầm lặng mà ông chưa bao giờ kể. Trong suốt 7 năm làm nhiệm vụ mở đường, gia đình ông mỗi người một ngả. Các con lớn học ở trường học sinh miền Nam, vợ ông công tác ở Hải Dương. Hơn 7 năm đằng đẵng, hai vợ chồng chỉ gặp mặt duy nhất một lần. Những bức thư ông gửi về cho vợ và các con cũng chỉ được viết ngắn gọn để đảm bảo bí mật quân sự.

 Võ Thị Hồng Liên, con gái út của ông, chưa đầy một tuổi phải gửi lại Hà Nội, nhờ người nuôi hộ.  Ông đã không có mặt lúc con gái bị viêm não để di chứng của bệnh theo con ông đến suốt cuộc đời. Bà Thí tâm sự, khi có cơ hội ra Hà Nội, việc đầu tiên mà Võ Bẩm làm là đưa con gái đi chữa bệnh. Khi bác sĩ bảo mang đến quá muộn, ông thiếu chút nữa đã không kìm được nỗi đau. Võ Bẩm đã phải nuốt nước mắt, để con lại Hà Nội và tiếp tục vào Trường Sơn thực hiện nhiệm vụ. Sau khi được cấp trên gọi ra Hà Nội chữa bệnh năm 1967, ông đã tìm mọi cách bù đắp sự mất mát cho con gái trong suốt những năm tháng sau này.

Bà Thí nghẹn ngào nhớ lại: “Những năm tháng vất vả, gian khổ ở Trường Sơn đã khiến chồng tôi chìm trong bệnh tật, nhưng tôi biết trong lòng ông vẫn canh cánh nỗi lòng về con đường này. Ngày ngày, ông ấy đều ngồi nhìn chiếc gậy mang từ trong đó ra, lòng thắc thỏm lo âu không biết anh em có bị hy sinh nhiều không, có hoàn thành nhiệm vụ không, cuộc sống có vất vả thiếu thốn không. Được hưởng cuộc sống yên bình ở Hà Nội cũng là điều khiến ông ấy luôn day dứt”.

Trong suốt phần đời còn lại, mơ ước duy nhất của ông là được quay lại Trường Sơn, thăm anh em đồng chí. Năm 1973, khi sức khoẻ dần ổn định, Võ Bẩm về thăm quê hương Sơn Tịnh – Quảng Ngãi và dự định thăm lại Trường Sơn. Cơn xuất huyết não tai ác lần thứ hai xảy ra ở  Quảng Ngãi đã khiến ước mơ của ông mãi mãi không thể trở thành hiện thực.  Ông nằm liệt ở Quảng Ngãi rồi được đưa quay trở ra Hà Nội. Người anh hùng mở đường Trường Sơn đầu tiên đã không bao giờ có cơ hội được nhìn lại con đường huyền thoại – công trình vĩ đại mà ông và những đồng đội của mình đã tạo ra bằng xương máu và lòng quả cảm không gì sánh được.

Vợ ông nhớ lại, khi những đồng đội chung vai sát cánh ở Trường Sơn ra thăm ông sau giải phóng, nước mắt đã tràn ngập gian phòng nhỏ. Sau gần 20 năm gặp lại, họ đều đã già yếu với không ít vết tích chiến tranh trên người. Những người đàn ông một thời vào sinh ra tử, tưởng đã chai sạn vì bom đạn chiến tranh, giờ đây khóc ngon lành như  những đứa trẻ. Trong những câu nói bị ngắt quãng vì xúc động, họ chỉ nói về Trường Sơn, về những năm tháng Trường Sơn, về tình đồng chí, đồng đội và sự đau xót cho những người đã nằm lại mãi mãi ở Trường Sơn.

Suốt những năm tháng cuối đời, thiếu tướng Võ Bẩm phải nằm liệt giường, thường xuyên chìm trong mê sảng và sự lú lẫn của tuổi già. Nhưng những giây phút hiếm hoi tỉnh táo, câu đầu tiên mà ông nói là: “Hãy cho tôi về lại Trường Sơn”. Những lúc như thế, vợ ông lại phải nói dối là xe đang đến để đưa ông đi. Để rồi, như hạnh phúc vì tin là mình sắp được trở lại mảnh đất đầy yêu thương và kỷ nịêm, ông lại yên tâm chìm vào giấc ngủ đầy mệt mỏi của tuổi già.

Sáng 5/7/2008, thiếu tướng Võ Bẩm ra đi mãi mãi. Từ khắp mọi miền đất nước, những người lính một thời, dẫu thành đạt hay nghèo khó, lành lặn hay tàn phế đều cố gắng đến Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng nhìn mặt ông lần cuối và tiễn đưa ông về an nghỉ ở nghĩa trang Mai Dịch. Những giọt nước mắt của đồng chí, đồng đội là vòng hoa đẹp nhất, là sự ghi nhận trân trọng nhất cho những chiến công của ông. Thiếu tướng Võ Bẩm hẳn đã không phải tiếc nuối điều gì trước khi ra đi, có chăng, đó chỉ là một sự day dứt khi chưa một lần được thăm lại Trường Sơn.

Ánh Hồng
theo ĐV