Thế mạnh nông nghiệp bởi Nguyễn Quang

Theo đà hiện đại hóa của mỗi một nền kinh tế, tỷ trọng đóng góp cho tổng thu nhập quốc dân của nông nghiệp ngày một giảm dần. Tuy nhiên, tầm quan trọng của nông nghiệp không vì thế mà giảm sút bởi sự tồn vong của loài người đều nhất nhất phụ thuộc vào nông sản. Không đợi đến các cuộc khủng hoảng lương thực như đã xảy ra trong năm qua, nhân loại đã suy tôn sức mạnh nông nghiệp ngay từ thời tiền sử…

Ngành nông nghiệp đang gánh vác sứ mệnh cao cả: đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội. Trong cuộc suy thoái kinh tế hiện nay, ngành này còn đóng vai trò hỗ trợ ngành công nghiệp và dịch vụ để kìm chế đà suy giảm.

Tìm lại sức mạnh trong… khủng hoảng?

Khủng hoảng lương thực hồi đầu năm 2008 buộc nhiều quốc gia trên thế giới phải nhìn lại chiến lược phát triển kinh tế của mình. Lâu lắm rồi, vấn đề nông nghiệp mới được nhận thức lại với vai trò như chiếc “mỏ neo” của không chỉ nền kinh tế mà cả sự ổn định chính trị, xã hội. Bởi triết lý đơn giản: Con người có làm gì thì vẫn cần phải ăn!

Đối với một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam, sự nhận thức lại này chính là cơ hội để gia tăng xuất khẩu nông sản. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 đã làm lộ rõ những hạn chế cố hữu của một nền nông nghiệp đang chập chững bước vào sản xuất hàng hóa lớn. Nông nghiệp Việt Nam đang phải đối phó cùng lúc nhiều áp lực từ kim ngạch xuất khẩu nông sản giảm mạnh, dòng lao động mất việc đổ về nông thôn ngày càng nhiều đến biến động bất thường của vật tư đầu vào, bất ổn ở đầu ra tiêu thụ sản phẩm… “Cái khó” của nông nghiệp Việt Nam chỉ có thể được giải quyết nếu chúng ta nhận thức được vị trí của mình trên “bản đồ nông nghiệp” thế giới để khắc phục hạn chế, phát huy ưu thế trong những năm tới.

Lớn và nhỏ!

Có thể nói, kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam trong những năm gần đây luôn đạt trên 10 tỷ USD, là sự phấn đấu không biết mệt mỏi từ nông dân đến doanh nghiệp cũng như những chính sách hỗ trợ tích cực của cơ quan quản lý. Thế nhưng trong sự so sánh với giá trị thị trường nông sản thế giới lên tới 1.500 tỷ USD/năm thì con số trên quá nhỏ bé.

Với diện tích đất nông nghiệp lên tới 10 triệu ha, bằng 1/10 tổng diện tích đất canh tác của toàn EU (97 triệu ha) nhưng giá trị sản xuất trong năm 2008 chỉ đạt khoảng 15,6 tỷ USD so với 295 tỷ USD của châu Âu. Và chỉ với tổng diện tích đất canh tác 241 triệu ha, chiếm 14% diện tích toàn thế giới, nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp của châu Âu và Mỹ ước đạt 450/1.500 tỷ USD của thị trường nông sản toàn cầu trong năm 2008. Những khoảng cách xa vời đó cũng là minh chứng tiêu biểu cho sự tụt hậu của nền nông nghiệp giữa các nước phát triển (EU, Mỹ, Canada…) với các nước đang phát triển khác về khoa học công nghệ, phương thức quản lý cũng như mô hình sản xuất.

Ở Mỹ, những trang trại cho xuất chuồng mỗi năm cả trăm nghìn đầu lợn mà chỉ có 4 nhân công làm việc thường xuyên… hay ở Hà Lan dù diện tích canh tác bình quân đầu người chỉ đạt 0,058 ha/người (thấp nhất thế giới) nhưng hiệu suất lao động vẫn đạt 44.339 USD/lao động, 9,5 tấn thịt, 41,6 tấn sữa/lao động nông nghiệp.

Còn tại Việt Nam, thành công của nông nghiệp dựa gần như tối đa những thế mạnh vốn có về khí hậu, đất đai và hơn nữa là sự cần cù của người nông dân thay vì gia tăng hàm lượng khoa học, đầu tư máy móc, cải tiến phương thức quản lý… Vì vậy, dù kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt mức cao nhất từ trước tới nay, song ngay khi chạm vào khủng hoảng, nông nghiệp Việt Nam đã chịu những “dư chấn” không nhỏ khi nông sản xuất khẩu bị ứ đọng, giá trị giảm, cả doanh nghiệp lẫn nông dân đều thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh. Trước sự cạnh tranh dữ dội hơn, những lô hàng nông sản Việt chủ yếu ở dạng thô, lại “mượn” thương hiệu nước ngoài đã kém thế rất nhiều so với những mặt hàng cùng loại ở những quốc gia khác bất chấp số lượng có thể nhiều hơn. Sự suy giảm, có thể là tạm thời, nhưng đã buộc nhiều người phải nhìn lại hướng phát triển của một nền nông nghiệp vốn chỉ mong sao làm được nhiều bán được nhiều với giá càng cao càng tốt thay vì đầu tư bài bản, làm ăn khoa học. Những tham vấn được các chuyên gia kinh tế đưa ra để thực hiện điều này vẫn chỉ là tăng cường hàm lượng khoa học để nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; tiến tới nền sản xuất hàng hóa; xây dựng sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân – nhà khoa học – doanh nghiệp. Không có điều gì mới nhưng lối tư duy tiểu nông ăn mòn vào cả người nông dân, lẫn người quản lý bao năm qua lại chưa thể thay đổi.

Nhiều năm qua, đầu tư cho khoa học nông nghiệp ở Việt Nam chỉ đạt mức 0,1% GDP trong khi nhiều nước trong khu vực đầu tư cao gấp 4-7 lần còn mức đầu tư cho KHCN nông nghiệp các nước phát triển như Australia là 1% GDP, Canada là 1,3% GDP, Mỹ là 0,7 %. Thế nhưng ngay cả khi có được đầu tư đầy đủ, có những chuyên gia giỏi thì việc triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học nông nghiệp ở một nền nông nghiệp sản xuất manh mún như Việt Nam là hết sức khó khăn. Nếu như những nước như Mỹ, Hà Lan, hầu hết các nước EU đều tập trung phát triển trang trại có diện tích từ vài chục ha thậm chí tới hàng trăm ha để tận dụng tối đa hiệu suất của các loại máy móc thì những mảnh ruộng “tý hon” ở đồng bằng sông Hồng hay cả những khoảnh ruộng rộng vài ha ở đồng bằng sông Cửu Long khiến việc đầu tư những loại máy nông nghiệp hiện đại, công suất lớn không đem lại nhiều ý nghĩa về kinh tế. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các doanh nghiệp nước ngoài, với lợi thế về tài chính, công nghệ lẫn mô hình quản lý hiện đại, không mặn mà với nông nghiệp. Ngoài ra, tỷ lệ bảo hộ thực tế đối với nông sản lại quá thấp (dưới 3%) so với hàng công nghiệp (có khi lên tới trên 200%). Hệ thống bảo hiểm nông nghiệp hầu như không hoạt động cũng khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài ngần ngại.

Do đó, nông nghiệp Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển tự phát và manh mún. Nhưng áp lực của cuộc khủng hoảng kinh tế cùng những khó khăn được dự báo trong năm 2009 lại được nhiều chuyên gia cho là cơ hội để thay đổi về tư duy quản lý, sản xuất để xóa bỏ tính manh mún của nông nghiệp Việt Nam.


Công thức nào cho thành công?



Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ispard) Đặng Kim Sơn cho rằng, trong quá khứ có những thời kỳ như công nghiệp tăng trưởng âm song tăng trưởng mạnh của nông nghiệp, dịch vụ đã tạo lực đẩy giúp nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng. Như năm 1999, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á, thì cả công nghiệp, dịch vụ đều giảm mạnh nhưng nông nghiệp vẫn duy trì giúp chúng ta thoát khỏi khủng hoảng. Song hiện nay, nông nghiệp chưa có những chính sách phát triển đột biến, để đủ sức chống chịu với khủng hoảng trong khi công nghiệp, dịch vụ đã bắt đầu giảm… Vấn đề đặt ra là cần nhìn nhận cho được những mặt mạnh, yếu của nông nghiệp Việt Nam để đưa ra được những “liều thuốc chữa trị” đúng “bệnh”, đúng chỗ.

Tại nhiều cuộc tọa đàm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn với sự tham gia của các nhà khoa học kinh tế, xã hội diễn ra trong năm 2008 đã nhấn mạnh đến yếu tố đất đai là “động lực” của kinh tế nông nghiệp. Nhiều nhà khoa học đã mạnh dạn kêu gọi một cuộc “cách mạng ruộng đất” sau “cơ chế khoán 10” để tiếp tục giải phóng nội lực nông thôn, phát triển các hình thức sản xuất mới.

Lôgic của đề xuất này đơn giản là nếu có trong tay một diện tích đất đủ lớn, thì người nông dân sẽ đầu tư mạnh tay hơn vào khoa học, máy móc thiết bị để đảm bảo năng suất, chất lượng mà anh ta sẽ bán cho doanh nghiệp chế biến. Và thay vì phải ký hợp đồng với cả chục ngàn hộ nông dân để có một vùng nguyên liệu rộng vài ngàn ha thì nay mọi nhà máy chế biến nông sản có thể chỉ cần ký với vài chục hoặc cùng lắm là vài trăm chủ trang trại. Điều đó có nghĩa chi phí gián tiếp sẽ giảm đi, nhưng sự gắn kết sẽ chặt hơn. Đó là cơ sở đầu tiên để có thể hình thành được nền nông nghiệp sản xuất lớn, hiện đại, có phương pháp quản lý tiên tiến, hiệu quả.

Đây thực chất cũng là kinh nghiệm phát triển của nhưng quốc gia như Hà Lan, hay Mỹ với việc gia tăng diện tích đất canh tác bình quân trên lao động nông nghiệp đồng thời giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống mức thấp, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, tạo hiệu suất lao động cao nhất. Công thức thành công của nông nghiệp Hà Lan là tổ hợp trang trại công – nông – thương kết hợp hài hòa giữa yếu tố công nghiệp vào nông nghiệp được chuyên môn hóa cao độ để phục vụ mục đích thương mại chứ không phải là tự túc tự cấp. Đây là một nguyên nhân cực kỳ quan trọng đảm bảo hiệu suất sản xuất và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Hà Lan hơn hẳn nhiều nước khác trên thế giới. Nhìn sang nước bạn, Trung Quốc đã đạt kỳ tích nuôi sống 22% nhân loại chỉ nhờ 7% diện tích canh tác toàn cầu, nay vẫn hết sức coi trọng phát triển nông nghiệp bằng chính sách “tam nông”.

Vấn đề được đặt ra ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam là những người nông dân không còn đất canh tác sẽ làm gì. Câu trả lời là họ sẽ làm những việc liên quan đến nông nghiệp hoặc tham gia thị trường lao động công nghiệp, dịch vụ. Cụ thể hơn, những người nông dân có đất có thể góp vốn để trở thành cổ đông hay công nhân của một tổ hợp trang trại lớn mà anh ta sẽ làm thuê. Còn không, anh ta có thể nhượng lại diện tích canh tác và được hỗ trợ thêm kinh phí để chuyển đổi nghề. Thực tế, việc hình thành các vùng nông sản lớn sẽ kéo theo những cơ sở, nhà máy chế biến lớn, các dự án đầu tư về cơ sở hạ tầng, những đô thị vệ tinh… và những lao động nông nghiệp trước kia sẽ có thể tham gia những công việc mới không còn phải gắn chặt với ruộng đồng. Tất nhiên, đây vẫn chỉ là viễn cảnh xa vời và nó sẽ chỉ thành công nếu những chính sách đồng bộ để đầu tư cho nông nghiệp cả về đất, vốn, cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực… được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện đầy đủ và đúng kế hoạch.

Ý kiến



Xuất khẩu “Văn minh lúa nước”



Sau chuyến khảo sát thực địa ở Tây Phi, GS. Võ Tòng Xuân cho biết: So với Sierra Leone, Nigeria có nhiều lợi thế để chương trình sẽ thành công và đạt hiệu quả cao. Nigeria có thuận lợi rất lớn về mặt tài chính… là điều kiện thuận lợi để tạo ra thực tế sinh động thuyết phục toàn châu lục tham gia. Hiện số mạ chuẩn bị cấy lúa thực nghiệm phát triển tốt sẵn sàng cho ngày mùa theo kỹ thuật và văn minh cây lúa Việt Nam đang bắt đầu trên quốc gia thứ hai ở châu Phi. Theo GS. Xuân, đó chỉ mới là bước khởi đầu cho bản trường thiên về câu chuyện xuất khẩu “văn minh lúa nước”. Bởi trong bước đi của kế hoạch liên hoàn này, sẽ có hàng loạt hoạt động kéo theo như “xuất khẩu” máy xay lúa mini lưu động do nông dân Việt Nam tự chế tạo, rồi thúng, mủng, lưỡi hái, máy sấy lúa, máy hút bùn, máy gặt đập liên hợp “made by Vietnam… sẽ thẳng tiến châu Phi. Và trong tương lai gần, từ châu Phi, hạt gạo Việt Nam sẽ lên đường xuất khẩu sang nhiều quốc gia, châu lục trên thế giới.

Là một nhà khoa học, nhà giáo dục, nhà quản lý quốc tế trong lĩnh vực phát triển nông thôn, đa dạng hóa nông nghiệp và chính sách nông nghiệp trong hơn 3 thập kỷ qua, GS. Võ Tòng Xuân đã tận tâm, tận lực đẩy mạnh nông nghiệp phát triển theo hướng đa dạng và bền vững. Đặc biệt thông qua những công bố khoa học và nhiều đề xuất chính sách tầm quốc tế đã trực tiếp tác động tích cực đến đời sống của hàng triệu người tại các quốc gia đang phát triển, có thế mạnh về nông nghiệp.

Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam Rolf Bergman:

Thụy Điển sẽ cung cấp các dịch vụ về tư vấn trong lĩnh vực nông nghiệp

Việt Nam có tới 75% dân số sống ở nông thôn và sở hữu những diện tích đất nhỏ. Việc làm chủ đất nhỏ đã khiến cho sản xuất hạn chế, dẫn đến thu nhập của gia đình bị thu hẹp và làm phức tạp vấn đề quản lý đất. Hơn nữa, phát triển nông thôn không thể thực hiện tốt và lâu dài được nếu không có một thể chế từ Trung ương. Con người cũng cần phải chuẩn bị tốt hơn trong sản xuất nông nghiệp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Thuỵ Điển sẽ xây dựng một phương pháp tiếp cận mới, trong đó cung cấp các dịch vụ về tư vấn, và hỗ trợ các tổ chức hợp tác đa phương tại Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp.


Ba mục tiêu tổng quát

Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, hài hoà giữa các vùng, đặc biệt tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị giữ vai trò làm chủ nông thôn mới.

Thứ hai, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.

Thứ ba, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức thành nền tảng bền vững bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH theo định hướng XHCN.

(Trích: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X tháng 7/2007)

Chung Nguyên
theo TG & VN