Thấy gì từ cuộc họp G20 bởi Nguyễn Quang

Sự thật là ngoài con số 1100 tỷ đôla cam kết đóng góp cho IMF thì tất cả mọi cam kết khác đều vẫn đang rất mơ hồ. Mối quan tâm lớn nhất hiện nay là việc làm, các nước phát triển sẵn lòng đóng cửa các cơ sở sản xuất ở nước ngoài thận chí xa thải công nhân nhập cảnh để bảo hộ sản xuất, đổ mọi khó khăn lên đầu các nước đang phát triển. Vẫn không có một cơ chế giám sát sự mất giá của đồng đola Mỹ…

Bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay

Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Bản chất của ITO là tạo lập một môi trường kinh doanh thống nhất áp đặt cho mọi tổ chức và quốc gia bao gồm từ việc thiết lập các lệnh trừng phạt trực tiếp như cấm vận, cho đến việc gián tiếp áp đặt các qui định về nhân công, đầu tư, đối tác thứ 3, và những thỏa thuận về hàng hóa . Vào những năm ngay sau thế chiến thứ II, Mỹ chưa phải là một trung tâm kinh tế mạnh, vì thế Mỹ đã không mặn mà lắm với việc phải tuân thủ các qui tắc và luật lệ của ITO, chính vì thế mà một tổ chức khác đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) đã ra đời. GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó.

Sự ra đời của GATT là một thỏa hiệp giữa một bên là nhu cầu cần thiết về kinh tế và bảo hộ tri thức trong thương mại giữa các quốc gia trên thế giới với một bên là các toan tính chính trị phụ vụ cho cuộc chiến tranh lạnh trong quan hệ quốc tế với phe xã hội chủ nghĩa. Về thực chất trong suốt 50 năm tồn tại, GATT đuợc biết đến như là một hệ thống các qui định luôn luôn thay đổi, đôi khi không được tất cả các thành viên đồng thuận. Song song với việc lớn mạnh của kinh tế, các nước trên thế giới trở nên phụ thuộc vào nhau hơn. Cùng với nó là việc kinh tế Mỹ nhanh chóng phát triển và trở thành trung tâm kinh tế thế giới, đồng dola đã trở thành công cụ thanh toán toàn cầu. Cùng với sức ép quân sự dẫn tới chạy đua vũ trang, Mỹ đã nhanh chóng nhận ra sức mạnh của công cụ thương mại. Chính vì thế đã có nhiều cuộc đàm phán biến GATT thành một vũ khí “hủy diệt” hoàn hảo để thực hiện chiến tranh lạnh. Sau khi khối Xã hội chủ nghĩa tan rã môi trường kinh doanh thay đổi, vòng đám phán thứ tám của GATT, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995. WTO chính thức trở thành công cụ phục vụ cho vị thế chủ soái của Mỹ.

Như vậy việc ra đời WTO là kết quả phát triển mang tính qui luật từ sự kết hợp giữa một bên là sức mạnh kinh tế của phương thức sản xuất ưu việt một thời bị các nước xã hội chủ nghĩa gọi với một giọng miệt thị là “phương thức sản xuất tư bản” lấy lợi nhuận tối đa làm nguyên lý cơ bản, và với một bên là chính sách “chủ soái” của Mỹ trong quan hệ quốc tế. Khuyếch trương WTO là chính sách chính của Mỹ dưới thời thời tổng thống Bill Clinton. Chưa bao giờ nước Mỹ mạnh như vào thời kỳ này. Tuy nhiên, ngay khi nuớc Mỹ trở thành chủ soái hàng loạt vấn đề đã nảy sinh. Trước hết là sức mạnh của cỗ máy sản xuất vũ khí nay đã bị tê liệt. Sách lược chạy đua vũ trang từng một thời là cỗ máy “kích cầu” là con gà đẻ trứng vàng tạo động lực cho nền kinh tế Mỹ có nguy cơ chết hẳn. Sau 20 năm vũ khí sản xuất ra không được sử dụng khiến cho một lượng của cải bị tồn kho ứ đọng. Điều này, một mặt mâu thuẫn với nguyên lý “lợi nhuận tối đa” và một mặt khác dẫn tới nguy cơ ngừng trệ việc nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh này các thế lực tài phiệt điều hành nước Mỹ đã nghĩ ra phương án “bán” lượng vũ khí “tồn kho” cho nhà nước Mỹ, và đến lượt của mình nhà nước Mỹ phải sử dụng và tìm cách trả tiền lại cho họ – các thế lực tài phiệt Mỹ. Chính đấy là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của một khái niệm mới là chủ nghĩa khủng bố. Thật nhục nhã cho nước Mỹ, mệnh danh là một trung tâm khoa học, đã cố nhào nặn ra một khái niệm mới “chủ nghĩa khủng bố” mà không dựa trên bất kể một luận chứng khoa học nào có thể kiểm chứng được, và vì thế cần phải có một chứng cớ. Chứng cớ đó đã được họ tạo ra dưới một cái tên là “thảm họa khủng bố 11/9”. Cho dù bưng bít đến thế nào, không một ai trên thế giới lại ngờ nghệch mà không hiểu ra chính Mỹ đã tạo dựng “thảm họa 9/11” với một cái giá rẻ nhất có thể. Và rồi vũ khí Mỹ cũng đã được mang ra “sử dụng”, và việc đánh Iraq là lẽ tất nhiên của một qui trình thương mại khép kín – phải có một người trả tiền cho chính phủ Mỹ – đó là dầu mỏ của Iran. Sau 8 năm cầm quyền với chính sách răn đe và có một cộng sự là nhà “am hiểu văn hóa Nga”, bà Rice, ông Bush đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ do thế lực tài phiệt Mỹ giao cho qua những lá phiếu cuối cùng mà ông nhận được khi chạy đua vào nhà Trắng.

Lẽ đương nhiên cái khái niệm “chủ nghĩa khủng bố” vô căn cứ khoa học cũng phải bị lãng quyên trước những sức mạnh mang tính qui luật. WTO được ra đời dựa trên nguyên lý cơ bản là lợi nhuận tối đa. Người ta sẵn lòng đưa công nghệ đến một quốc gia, cho dù là thù địch, miễn sao có được lợi nhuận. Chính WTO là tiền đề của khái niệm phân công lao động quốc tế, và thật sự đã mở ra một lối thoát cho các nước đang phát triển. Đấy là mặt nhân đạo mang tích tích cực của nó trong quá trình kiến tạo một trật tự kinh tế thế giới mới.

Tuy nhiên nguyên lý lợi nhuận tối đa, nguyên lý sản xuất cơ bản của chủ nghĩa tư bản, cũng đến hồi kết thúc. Khác với xã hội loài vật, nơi mà sự phát triển phụ thuộc hoàn toàn vào môi trường tự nhiên, xã hội loài người được kiến tạo dựa trên sự tích lỹ. Con người phải lao động để tạo ra tích lũy cho xã hội, tuy nhiên động lực nào khiến con người làm được điều này? Chủ nghĩa cộng sản dựa trên nguyên lý cho rằng chính lao động là một nhu cầu sống và con người ta luôn mong muốn lao động. Họ luôn kêu gọi sự trau dồi ý thức và đồng nhất “cung với cầu”. Dựa trên luận thuyết này mà chủ nghĩa cộng sản đưa ra khẩu hiệu “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” và xã hội được điều tiết dựa trên sự phân công lao động. Có lẽ những nguyên lý này không sai nhưng hiện tại thì chưa đúng. Chủ nghĩa tư bản dựa trên nguyên lý cho rằng con người ta phải bị ép buộc mới lao động. Người ta tách “cung” và “cầu” ra thành hai đối tượng khác nhau. Con người muốn được thỏa mãn nhu “cầu” của mình thì phải lao động, và chính lao động sẽ tạo ra nguồn “cung”. Để tạo ra tích lũy thì sản phẩm tạo ra phải nhiều hơn là sử dụng. Người ta sử dụng “tiền” làm công cụ trung gian trong mối quan hệ “cung cầu”. Trong suốt quá trình tồn tại vừa qua, chủ nghĩa tư bản đã thể hiện được mặt tích cực của mình và thúc đẩy sự tiến bộ của loài người, ngoại trừ một căn bệnh nan y, và đó là khủng hoảng kinh tế. Do tách rời cung với cầu mà đôi khi cung vượt quá cầu và đôi khi cầu vượt quá cung, hiện tượng này được biết đến như khủng hoảng thiếu và khủng hoảng thừa. cùng với sự phát triển công nghệ viễn thông và tin học vào đầu những năm 80 của thế lỷ trước, người ta đã tin rằng sẽ không còn có khủng hoảng thừa và thiếu nữa. Tuy nhiên không có mâu thuẫn thì không có phát triển, sau 30 năm kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh mẽ con người ta đối diện với một khái niệm mới và đó là khủng hoảng khi mà “cung” và “cầu” đều có nhưng lại không đến được với nhau. Thế giới hiện tại đặc trưng bởi một lượng của cải rất lớn — nguồn cung – không được sử dụng và điều này gây ra mâu thuẫn với nguyên lý lợi nhuận tối đa. Muốn sinh lợi thì của cải phải được mang ra sử dụng. Những căn nhà tuyệt đẹp với đầy đủ tiện nghi bị đóng cửa, hàng hóa tích trữ đầy kho,.. trong khi con người ta cần cái ăn, chỗ ở… Để đảm bảo chỉ tiêu phát triển kinh tế người ta đã nghĩ ra một phương án sinh lời từ cái cái không thể sinh lời. Người ta đã tìm cách kinh doanh mối quan hệ “cung-cầu”. Giai đọan đầu tiên của việc kinh doanh quan hệ “cung-cầu” là việc cho vay để sử dụng. Tuy nhiên đây chỉ là biện pháp đối phó nhằm kéo “cung” và “cầu” đến gần nhau hơn. Việc cho vay và siết nợ một mặt dần trở thành phương sách chủ đạo trong mô hình kinh tế tư bản một mặt là một cơ hội kinh doanh có lời “chắc chắn”. Nguyên lý lợi nhuận tối đa khiến cho người ta tiến hành kinh doanh ngay chính biện pháp “cho vay-siết nợ”, và việc phát hành cổ phiếu “nhà đất” đã tạo ra một bong bóng tiền tệ, bởi một lượng tiền lớn từ bên “cầu” đã lại đổ dồn sang bên “cung” khiến cho khoảng cách cung cầu càng xa nhau hơn. Khoảng cách “cung cầu” xa hơn hơn khiến một khối lượng lớn tư bản đã không thể sinh lãi và kinh tế không còn phát triển. Đấy là bản chất của cuộc khủng hoảng hiện nay, khủng hoảng khi mà cung và cầu đều có nhưng không thể đến được với nhau, hay nói một cách khác khủng hoảng của phương thức sản xuất. mà chính sự xụp đổ của hệ thống tài chính ngân hàng là biểu hiện bên ngoài của nó.

Như vậy, mô hình sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên sự phân công lao động, mô hình sản xuất tư bản dựa trên cạnh tranh nhằm tới “lợi nhuận tối đa” đều đã bộc lộ những nhược điểm của mình. Trong bối cảnh này Trung Quốc nổi lên như một cơ thể miễn nhiễm với các dung động của cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Thực chất của sức mạnh kinh tế Trung Quốc có được là do sự chuyển đổi nửa vời giữa một bên là phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và một bên là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Người Trung Quốc thực hiện phân công lao động theo kế hoạch và tiến hành điều tiết lợi nhuận ở trên tầng vĩ mô, và áp dụng nguyên lý cạnh tranh vì lợi nhuận ở tầng vi mô. Chính nguyên lý không chạy theo lợi nhuận tối đa này đã tạo ra sự ổn định trong phát triển kinh tế hiện nay của Trung Quốc.

Không hẳn là chính phủ các nước phát triển như Mỹ và Tây âu không hiểu được bản chất của cuộc suy thoái hiện nay, mà cái chính là họ có thể làm được điều gì hay không. Hiện tại nền kinh tế Mỹ và Tây Âu vẫn đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế thế giới, và nền kinh tế này đang lâm bệnh nặng. Lẽ đương nhiên mọi hành động đầu tiên đều mang dấu ấn văn hóa, phương thức chữa bệnh “đau đâu chữa đó” theo văn hóa Phương Tây đã được áp dụng. Người ta tìm cách bơm ra một lượng tiền lớn để kích cầu dẫn đến một bức tranh về kích cầu trên thế giới. Bản chất của kích cầu là bảo hộ sản xuất và như vậy WTO chính thức bị khai tử.

Chính quyền của ông Clinton được xây dựng dựa trên WTO như một vũ khí “hủy diệt” của Mỹ; chính quyền của ông Bush được xây dựng dựa trên học thuyết “khủng bố quốc tế” nhằm phá vỡ mọi luật pháp quốc tế tạo cho Mỹ một vị thế có lợi đặc biệt về quân sự; chính quyền của ông Obama được xây dựng dựa trên học thuyết “kích cầu”, hay nói một cách khác là chủ nghĩa bảo hộ sản xuất đã và đang “cắt cầu” sự phát triển của các nước nghèo. Sự thực là công cụ “kich cầu” của các nước phát triển đang trút mọi hậu quả lên các nước đang phát triển khiến cho việc trả các khoản nợ càng ngày càng trở nên vô vọng.

Trong bối cảnh khủng hoảng như vậy quan hệ quốc tế đang đứng trước một vấn đề lớn là giải quyết bài toán về sự bảo hộ của các nước đã phát triển, và khoản nợ của các nước đang phát triển. Như vậy việc các nước gặp nhau để cùng tìm ra một lối thoát là lẽ đương nhiên, và việc không đi đến được sự nhất trí chung cũng là lẽ đương nhiên. Cho dù là công bố hay không công bố thì, lẽ dĩ nhiên, hầu như các vấn đề được đưa ra bàn thảo ở các cuộc gặp song phương hay quốc tế là việc mỗi nước bơm bao nhiêu tiền cho việc kích cầu, giới hạn nào cho việc bảo hộ, giải quyết nợ như thế nào khi đồng tiền được in ra vô tội vạ. Trong trào lưu bảo hộ, các nước lớn đã và đang hoạch định lại chính sách thuộc địa kinh tế của mình. Và đi xa hơn là việc hình thành tầng kinh tế siêu vĩ mô quốc tế, ở đó sự điều tiết được thực hiện qua sự phân công và kế hoạch hóa.

Nội dung cuộc họp G20.

Hội nghị thượng đỉnh nhóm G20 khai mạc hôm 2/4 tại thủ đô London, Anh – Nhật Bản. Cuộc họp G20 đã diễn ra trong bối cảnh thế giới phải tìm cho ra một lối thoát cho kinh tế. G20, khởi nguồn từ năm 2003, bao gồm các nước: Argentina, Úc, Brasil, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật Bản, Mexico, Nga, Ả Rập Saudi, Nam Phi, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu. G20 được biết đến như nhóm các nước có ảnh hưởng thương mại lớn nhất trên thế giới. Hạt nhân của G20 là 4 nước Brasil, Trung Quốc, India, và Nam Phi.

G20 đã đạt được thoả thuận cụ thể như sau:

1.  Biến Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF thành cơ quan trung gian giám sát việc thực hiện việc cứu trợ nền kinh tế thế giới. Từng bước thực hiện việc dân chủ hóa, bãi bỏ quyền phủ quyết của Mỹ đối với IMF vào năm 2011.

2. Các nước cam kết đóng góp cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF thêm nguồn tiền tới 750 tỷ USD và tạo thêm khoản 250 tỷ USD cho IMF ở dạng quyền rút đặc biệt (SDR) để giúp các nước nghèo nhất.

Tại G20 lần đầu tiên tổng thống Mỹ, ông Obama thừa nhận trách nhiệm của Mỹ trong cuộc khủng hoảng hiện nay: “căn nguyên của cuộc khủng hoảng kinh tế lần này là sự không hoàn thiện của hệ thống tài chính Mỹ”. Tuy nhiên ông Obama đã ra về với một chiến thắng trọn vẹn đó là việc khẳng định lại một lần nữa vai trò thống soái của đồng đola Mỹ.

Nước Nga là một trong số các nạn nhân của công cuộc kích cầu. Phần lớn tài sản mà Nga có được là từ xuất khẩu dầu mỏ. Họ đánh đổi tài nguyên và công sức của mình để lấy những đồng tiền mà các máy in tiền của Tây Âu mà Mỹ in ra chỉ trong một “nháy mắt!”. Theo ý kiến của Tổng thống Dmitry Medvedev việc thiết lập một đơn vị dự trữ tiền tệ toàn cầu mới là rất cần thiết. Đơn vị dự trữ  tiền tệ mới có thể liên kết với một loại kim loại quý – đó là vàng. Cho dù là ông Medvedev nhấn mạnh, mục đích của ông khi đưa ra kiến nghị này không phải là làm suy yếu sự bá chủ của đồng USD, đồng bảng Anh hay đồng đồng EURO, mà là kêu gọi các nước nhanh chóng hoàn thiện hệ thống tiền tệ quốc tế cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi những đánh giá thuộc phạm vi kinh tế toàn cầu.

Về vấn đề bảo hộ sản xuất, các quan chức G20 cam kết chống mọi hình thức bảo hộ và tiếp tục mở cửa buôn bán và đầu tư. Họ cho biết, các ưu tiên chủ chốt hiện giờ là khôi phục cho vay bằng cách giải quyết các vấn đề trong hệ thống tài chính và sẽ đảm bảo khôi phục sự phát triển và ổn định lâu dài.

Về vấn đề tội phạm tài chính, các nhà lãnh đạo đã nhất trí rằng danh sách đen những “thiên đường trốn thuế” phải được công bố trong tương lai gần. “G20 đã nhất trí rằng sắp tới Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) sẽ xuất bản danh sách các thiên đường trốn thuế”.

Về khôi phục phát triển toàn cầu, các quan chức cho biết, họ đã thực hiện những hành động quyết đoán, có phối hợp và toàn diện nhằm tăng nhu cầu và việc làm. Ngoài ra, họ cũng chuẩn bị làm mọi việc cần thiết cho tới khi sự phát triển được khôi phục. Các bộ trưởng và thống đốc ngân hàng trung ương cũng cam kết giúp những nền kinh tế đang nổi lên và đang phát triển đối phó với sự đảo lộn của dòng chảy vốn quốc tế, nhất trí về nhu cầu cần thiết phải tăng nguồn cung cấp cho Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) một cách đáng kể, gồm bổ sung thêm hỗ trợ song phương, mở rộng và tăng đáng kể những thoả thuận cho vay mới.

Về củng cố hệ thống tài chính, các quan chức G20 cho biết họ đã hoàn thành những bước cần làm ngay trong Kế hoạch hành động Washington và hoan nghênh việc mở rộng diễn đàn ổn định tài chính (FSF) tới toàn bộ các thành viên G20. Họ cũng cam kết mọi thể chế tài chính quan trọng, các thị trường phải chịu những quy định và giám sát thích hợp, các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc những người quản lý của nó phải đăng ký và tiết lộ các thông tin thích hợp để đánh giá những rủi ro mà họ đặt ra. Các bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương G20 cũng thống nhất củng cố hợp tác quốc tế để ngăn ngừa và giải quyết khủng hoảng. Các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển, gồm cả những nền kinh tế nghèo nhất, phải có tiếng nói và sự đại diện lớn hơn, việc cải tổ ngân hàng thế giới phải được hoàn tất vào 2010.

Về cơ hội cho Việt Nam, Chính phủ Nhật Bản có dự định đầu tư cho châu Á trong lĩnh vực phát triển năng lượng, xử lý môi trường nước và đầu tư các dự án khác liên quan đến môi trường. Hầu hết các khoản viện trợ của Nhật Bản đều tập trung vào khu vực châu Á và châu Phi. Theo đó Nhật Bản sẽ thành lập quĩ 2 tỷ USD dành cho các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi, tăng viện trợ ODA cho châu Phi từ 5 tỷ lên 6 tỷ USD và dành một khoản 5 tỷ USD viện trợ cho các dự án môi trường ở các nước châu Á.

Cho dù là cam kết mở rộng thị trường nhưng trên thực tế xuất khẩu của các nước đang phát triển sang các nước phát triển đang sụt giảm và đạt đến con số 0. Các nước tiên tiến đang trợ vốn cho việc phát triển công nghệ năng lượng sạch như năng lượng mặt trời nhằm tìm ra một lối thoát cho sự phụ thuộc năng lượng.

Mối quan tâm lớn nhất hiện nay là việc làm, tuy vậy hãng xe Renault của Pháp đã bỏ qua cơ sở sản xuất chính tại nước Cộng hòa Slovenia, để tăng cơ hội việc làm mới cho riêng Pháp. Khi vốn của các ngân hàng trên thế giới bị mắc kẹt cần phải cầu cứu đến sự viện trợ, thì Pháp chỉ giải cứu cho các ngân hàng trong thị trường nội địa. Thủ tướng Anh Gordon Brown có lên án thế nào, thì họ vẫn chủ trương với cách làm “giành cơ hội việc làm cho công nhân người Anh”; Tổng thống Pháp Sarkozy còn thông báo với các nhà sản xuất xe hơi Pháp rằng, Chính phủ sẽ chỉ cứu trợ nếu đảm bảo số lượng việc làm cho chính nước Pháp, điều này đã khiến cho châu Âu đại lục trở nên xáo động; Tại Hy Lạp, để hỗ trợ cho việc vay vốn, Chính phủ đã từ chối viện trợ cho Balkans và chỉ bơm 37 tỷ USD (28 tỷ EUR) cho các ngân hàng trong nước. Để ngăn chặn việc EU phát hiện ra hành vi trái quy tắc trên, Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp, Ngân hàng trung ương Hy Lạp và  các cơ quan tài chính có liên quan đã thông qua “bằng miệng” các chính sách trên. Khi tỷ lệ thất nghiệp của các nước EU không ngừng gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ cũng sẽ leo thang. Tỷ lệ thất nghiệp của Eurozone là 8,5%, nhưng con số này ở rất nhiều nước khác còn cao hơn, tại Tây Ban Nha tỷ lệ thất nghiệp đã lên đến 15.5%, Iceland là 10%.

Mới đây, ngày 1-4 CH Czech thông báo nước này đã ngừng cấp thị thực về lao động và kinh doanh cho công dân năm quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhằm ngăn chặn dòng lao động giá rẻ vào nước này khi khủng hoảng kinh tế tiếp tục gây ra những hậu quả nặng nề.

Lao động Việt Nam tại hai thị trường Đài Loan và Hàn Quốc cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ suy thoái kinh tế, do hai nước này ngày càng có nhiều doanh nghiệp, công ty bị phá sản. Tại Đài Loan hai ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất là điện tử và sản xuất phụ tùng xe hơi. Trong khi đó tình hình kinh tế ở Hàn Quốc cũng tồi đi trong thấy.

Ngay tại Malaysia – nơi tiếp nhận nhiều nhất LĐ Việt Nam với khoảng 30 nghìn người mỗi năm, đến nay cũng chỉ nhận hơn 7 nghìn người.  Qatar đã ngưng việc cấp mới visa cho LĐ Việt Nam và không gia hạn hợp đồng LĐ cho hàng ngàn người đang làm việc ở nước này..

Về G20, sự thật là ngoài con số 1100 tỷ đô la cam kết đóng góp cho IMF thì tất cả mọi động thái khác đều vẫn đang rất mơ hồ, và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn chưa tìm thấy lối ra.

Ánh Hồng
theo Vitinfo