Sự chuyển dịch trung tâm thế giới bởi Nguyễn Quang

Xác định trung tâm sức mạnh thế giới là một vấn đề hết sức quan trọng. Đây là một cơ sở khoa học tin cậy để hoạch định và thực thi chiến lược, chính sách đối nội, đối ngoại của hết thảy mọi quốc gia. Cũng vì thế mà nó đặc biệt lôi cuốn sự chú ý của các học giả và chính khách nhiều nước. Trung tâm sức mạnh thế giới sẽ nằm ở đâu trong tương lai ? Nó có ảnh hưởng thế nào với cục diện khu vực cũng như toàn cầu?

Trước hết, cần xác định rõ là trung tâm sức mạnh thế giới đề cập trong bài này được hiểu là trung tâm quyền lực chính trị thế giới. Đó là sân khấu chính trị thế giới, nơi diễn ra mâu thuẫn chủ yếu trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự tồn tại, vận động và phát triển của các mâu thuẫn này sẽ quyết định sự hình thành và phát triển của cục diện thế giới trong từng thời kỳ lịch sử.

Sân khấu cũ



Trong giai đoạn 1945-1991, trung tâm quyền lực quốc tế nằm ở phương Tây, nơi diễn ra sự đối đầu về chính trị, an ninh, quân sự giữa hai hệ thống xã hội đối lập nhau là TBCN do Mỹ làm trung tâm và XHCN với Liên Xô là trụ cột. Về thực chất, mâu thuẫn Mỹ – Xô là mâu thuẫn chủ yếu của thế giới và sự vận động, phát triển của nó quyết định sự phát triển của tình hình thế giới. Vì thế, người ta mới cho rằng, 1945-1991 là thời kỳ đối đầu Mỹ – Xô, là thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường.

Trung tâm quyền lực quốc tế (phương Tây) thời kỳ này có một số đặc điểm nổi bật sau: Một là, nơi hội tụ mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất của thế giới, nơi đây dễ nhận biết bạn, thù và giữa chúng có phòng tuyến phân chia hai nửa của thế giới đối địch. Hai là, sức mạnh kinh tế ngày càng có vai trò quan trọng, nhưng đối đầu về sức mạnh quân sự luôn có vai trò quyết định. Năm 1972, GDP của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu chỉ bằng khoảng 20% GDP của các nước G7, nhưng sức mạnh quân sự của hai hệ thống đã tương đương nhau trên một số chỉ tiêu như số đầu đạn hạt nhân và các phương tiện chuyển tải. Nói cách khác, tại trung tâm quyền lực quốc tế này, nếu xảy ra chiến tranh thì không bên nào có thể giành thắng lợi áp đảo, mà cả hai bên có thể đồng thời bị hủy diệt – một cuộc chiến không có kẻ thua người thắng.

Cuối năm 1991, Liên Xô tan rã, hệ thống XHCN sụp đổ, cuộc đối đầu Mỹ – Xô kết thúc, Mỹ trở thành vai diễn chủ yếu trên sân khấu chính trị thế giới – trung tâm quyền lực phương Tây. 8 năm tiếp theo dưới thời Boris Elsin (1991–1999), nước Nga đứng bên bờ vực sụp đổ nhưng lực lượng vũ trang Nga vẫn nắm giữ kho vũ khí hạt nhân khổng lồ với các phương tiện chuyển tải hiện đại, đủ khả năng san bằng các nước phát triển Tây Âu. Do đó, dù Nga đã suy sụp, Mỹ và các nước tư bản phát triển vẫn cảnh giác và xem Nga là đối thủ chủ yếu. Điều đó có nghĩa là sân khấu chính trị vẫn ở phía Tây, trung tâm quyền lực chính trị thế giới vẫn ở hai bên bờ Đại Tây Dương.

Nga “lại sức” và Trung Quốc “tỉnh dậy”

Trong hai nhiệm kỳ Tổng thống, Vladimir Putin đã đưa nước Nga từ đống đổ nát thành cường quốc với tiếng nói có tính quyết định trên nhiều vấn đề trọng đại của thế giới. Đặc biệt, sự khôi phục sức mạnh tổng hợp quốc gia và đủ sức đương đầu “ăn miếng trả miếng” với Mỹ và phương Tây được thể hiện rõ nét trong cuộc chiến 5 ngày vào tháng 8/2008 ở Gruzia. Mátxcơva đã gửi tới Mỹ và phương Tây bức thông điệp rằng, nước Nga có thể đáp lại việc Mỹ ủng hộ Kosovo độc lập khỏi Serbia bằng việc công nhận Nam Osetia và Abkhadia độc lập, tách khỏi Gruzia – đồng minh thân cận nhất của Mỹ ở Kavkaz.

Cùng với sự phục hồi của Nga, sau 30 năm thực hiện đường lối cải cách, mở cửa, Trung Quốc cũng đã có bước tiến vượt bậc về mọi mặt. Cuối năm 2008, GDP của Trung Quốc đứng thứ 4 trên thế giới (sau Mỹ, Nhật, Đức), tổng lượng xuất nhật khẩu thứ 3 thế giới (sau Mỹ, Nhật) và có lượng dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới (khoảng 1900 tỷ USD). Về quốc phòng, lực lượng phòng không và tác chiến chiến lược được trang bị tên lửa tầm trung (4.000 km) và tên lửa tầm xa (trên 8.000km), tàu chiến lược hiện đại, hải quân Trung Quốc có khả năng tác chiến ở Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Về khoa học, việc phóng thành công tàu Thần Châu 7 có người lái đã đưa Trung Quốc tiến gần sát Nga và Mỹ trong việc chinh phục khoảng không vũ trụ và trở thành một trong ba quốc gia hàng đầu thế giới về khoa học vũ trụ, thiên văn.

Có lẽ Napoleon đã dự đoán đúng: “Trung Quốc ư? Đó là một người khổng lồ đang ngủ say. Chớ làm nó tỉnh dậy! Vì nó mà tỉnh dậy thì thế giới sẽ rung chuyển”. Thực tế, Trung Quốc đã “tỉnh dậy” từ tháng 12/1978, khi Hội nghị Trung ương 3 khoá 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định tiến hành cải cách mở cửa, hiện đại hoá đất nước. Nhưng đến thời gian Mỹ sa lầy trong hai cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan và Iraq, Trung Quốc đã thực sự vươn mình mạnh mẽ, rút ngắn khoảng cách phát triển so với Mỹ, Nhật và EU.

Cách đây hơn 10 năm, Nicholas D.Kristof, trưởng đại diện báo The New York Time tại Tokyo đã viết: “Vấn đề lâu đời nhất trong ngoại giao: Làm thế nào để cộng đồng quốc tế có thể kiềm chế được những tham vọng của một cường quốc đang lên – chưa bao giờ có một cường quốc nổi lên nhanh như Trung Quốc”.

Sự chuyển dịch khó cưỡng

Vấn đề chuyển dịch trung tâm quyền lực chính trị quốc tế từ Tây sang Đông thực ra đã được nói đến từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc (1991). Nhưng chỉ khoảng 5-7 năm gần đây, khi Mỹ sa lầy ở Afghanistan và Iraq và khi Trung Quốc chớp cơ để tăng tốc có tính đột phá về kinh tế, quốc phòng và khoa học, các học giả bắt đầu quan tâm nhiều hơn về khả năng của sự chuyển dịch này.

Tháng 11/2008, Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ (NIC) có báo cáo Xu hướng toàn cầu 2025: Một thế giới biến đổi, trong đó nhận định “Cơ cấu quốc tế được hình thành sau Thế chiến II sẽ gần như thay đổi hoàn toàn vào năm 2025, do sự nổi lên của các cường quốc mới, toàn cầu hóa kinh tế, sự chuyển dịch mạnh mẽ của sự thịnh vượng và quyền lực kinh tế từ Tây sang Đông và ảnh hưởng ngày càng lớn của các nhân tố phi nhà nước”.

Tất nhiên, không chỉ sự trỗi dậy của Trung Quốc, mà còn nhiều lý do khác khiến người ta nghĩ tới sự chuyển dịch này, trong đó có cả việc Nga khôi phục và phát triển nhanh, Ấn Độ đạt được tốc độ phát triển cao về kinh tế, quốc phòng, khoa học và trở thành một quốc gia xuất khẩu phần mềm hàng đầu thế giới. Ngoài ra, các vấn đề khác như cuộc chiến chống khủng bố (chủ yếu diễn ra ở Trung Đông, Nam Á, Đông Á), vấn đề hạt nhân của Iran, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, tranh chấp chủ quyền giữa các nước trong khu vực trên biển Đông, kể cả sự phát triển của ASEAN và vai trò của Hiệp hội trong việc duy trì sự ổn định khu vực, vấn đề nhân khẩu (châu Á sẽ là điểm dừng chân của tương lai) cũng là những nhân tố cần tính đến trong việc nghiên cứu, phân tích, lý giải về khả năng chuyển dịch trung tâm quyền lực từ Tây sang Đông. Ngoài ra, còn có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa 4 quốc gia là Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia. Tiếp đó là nhóm BRIC, gồm 4 nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ là Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, được Tập đoàn ngân hàng lớn nhất thế giới Goldman Sachs dự báo sẽ là những nền kinh tế lớn bậc nhất thế giới sau 50 năm nữa. Cũng theo dự báo đó, vào năm 2050, 6 nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ lần lượt là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Brazil và Nga, trong đó có 4 nước thuộc BRIC.

Về sự chuyển dịch trung tâm sức mạnh thế giới từ Tây sang Đông, sẽ có rất nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Đó là điều bình thường trong dự báo chiến lược. Song sự chuyển dịch này sẽ mang những nét chính sau:

Một là, dưới tác động tổng hợp của nhiều nhân tố: chính trị, kinh tế, an ninh, năng lượng, môi trường sinh thái và nhân khẩu học… trong đó, sự trỗi dậy mạnh mẽ, nhanh chóng của Trung Quốc chiếm vị trí trung tâm, đã bắt đầu diễn ra sự chuyển dịch trung tâm quyền lực từ Tây sang Đông.

Hai là, sự chuyển dịch trung tâm sức mạnh thế giới từ Tây sang Đông diễn ra trong một quá trình khá lâu dài, có thể đến 3-4 thập kỷ nếu tính từ năm 2001. Học giả nổi tiếng Kishore Mahbubani và Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ (NIC) đều đưa ra dự báo “cơ cấu quốc tế được hình thành sau Thế chiến II sẽ gần như thay đổi hoàn toàn vào năm 2025”.

Ba là, ở mức độ khác nhau, các nước, nhất là các cường quốc, các nước cận kề trung tâm quyền lực, bắt đầu đã điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại và chiến lược phát triển quốc gia để ứng phó kịp thời đối với quá trình chuyển dịch quyền lực từ Tây sang Đông.

Đối với Việt Nam, với vị trí địa – chính trị, địa – chiến lược quan trọng, lại nằm cận kề ở trung tâm phương Đông, sự chuyển dịch trung tâm sức mạnh thế giới từ Tây sang Đông, bất kể với tốc độ nhanh hay chậm, đều tác động lớn đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để chủ động ứng phó có hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra và bảo vệ lợi ích của dân tộc, việc dự báo sớm những tác động của quá trình chuyển dịch đó rất cần thiết cho sự phát triển của đất nước.

Trong cuốn sách Strategy for Tomorrow (Chiến lược cho ngày mai), Tướng Andre Beaufre, một nhà chiến lược nổi tiếng của Pháp, đã có ý kiến chí lý: “Sự thách thức lớn nhất của ngày hôm nay không phải là làm thế nào để ứng phó với tình hình của hiện tại, mà là làm thế nào ứng phó với tình hình có thể xuất hiện trong tương lai”. Chúng ta phải vượt qua thách thức to lớn này.

Trên trang báo nước ngoài



Tạp chí El Dipló (xuất bản tại Argentina và Uruguay): Xét phạm vi toàn cầu, tâm điểm của thế giới dịch chuyển ngày càng nhanh về phía Thái Bình Dương, với sức nặng ngày càng tăng của các nước châu Á. Các yếu tố dân số, kinh tế và địa chính trị đang dần tập trung tại phần này của thế giới. Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc, Ấn Độ trở thành một cường quốc mới nổi, sự phục hồi mạnh mẽ của nước Nga, sức hút của các nước như Nhật Bản, Australia và Indonesia, các nền kinh tế năng động tại Đông Nam Á, tất cả diễn ra trong khi châu Âu đang lạc hướng còn Mỹ thì thất bại trong các chính sách ưu tiên.

The Economist: Sau nhiều thập niên chia thế giới thành phương Tây giàu có và quyền lực và “phần còn lại” đang phát triển (hay đang nổi lên), sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc và sự năng động về kinh tế của Đông Á đã dẫn đến việc người ta nói về thế kỷ mới của Thái Bình Dương thay cho thế kỷ cũ của Đại Tây Dương đã kết thúc. Theo xu hướng hiện nay, đến khoảng năm 2025-2030, 3 trong số 4 nền kinh tế lớn nhất thế giới là các nước châu Á. Lúc đó, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ lên đứng đầu, theo sau là Nhật và Ấn Độ.

New Delhi Television: Chính sự suy thoái toàn cầu đã dọn đường cho sự nổi lên của một trật tự thế giới mới, với Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil đóng vai trò chính. Thậm chí các “ông lớn” về dầu mỏ như Venezuela và các nước Cộng hòa Trung Á sẽ có tiếng nói của mình. Sự hồi phục của Nga và sự mở rộng ảnh hưởng của nước này tại Trung Á sẽ khiến cho các nhà khổng lồ về kinh tế trước đây là Mỹ, EU và Nhật bị đặt sang bên lề.


Japan Times: Châu Á đang chứng kiến sự thay đổi chưa từng có trong cán cân quyền lực của khu vực khi ba cường quốc là Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản đang tìm cách định hình lại khu vực vì lợi ích của chính họ. Sự chuyển đổi trọng tâm chính trị toàn cầu từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương sẽ không diễn ra bình lặng do Trung Quốc và Ấn Độ đang trỗi dậy về mặt kinh tế, Nhật Bản khẳng định sức mạnh quân sự và Mỹ thay đổi cách nhìn nhận sức mạnh toàn cầu hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương.


Bussiness Daily Africa (Algeria): Các nước lớn tại Đông Bắc Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cho đến nay đã trở thành những chủ nợ quan trọng nhất của Mỹ, và tầm quan trọng của các nước này sẽ càng tăng sau cuộc khủng hoảng. Trong tương lai gần, những cơ hội lớn nhất cho tăng trưởng đều nằm tại khu vực này, và vì cả lý do kinh tế lẫn địa chính trị, Mỹ sẽ ngày càng phải chú ý vào Thái Bình Dương, và giảm tập trung vào hướng xuyên Đại Tây Dương như trước.


theo Thiếu tướng, PGS.TS Lê Văn Cương – TG&VN