“Số phận” bởi Nguyễn Quang

Bạn tôi quen và lấy cô vợ Ukraina tên Larisa xinh đẹp lắm. Nàng âu yếm và đặt tên cho anh là Xasa. Hai người rất yêu thương nhau và sinh được hai đứa con. Chúng mang giữa hai dòng máu Viêt-U nên trông như thiên thần. Con gái đầu là Anhia,con trai là Andrei. Ban đầu,bố mẹ anh ởVN và mẹ Larisa phản đối kịch liệt lắm.Vì cho rằng cưới người nước ngoài thì làm sao mà sống lâu với nhau được vì nền văn hóa khác nhau, bất đồng ngôn ngữ… Còn mẹ Larisa thì chê anh chàng Việt gầy còm nhom và suốt ngày lam lũ ngoài chợ, hơn nữa anh còn hơn nàng đến 18 tuổi đời. Mặc cho những can ngăn, anh đều bỏ ngoài tai hết và quyết cưới cho được nàng. Như anh nói thì chỉ tốn một ít thời gian, một ít tiền mà mình cưới được một “hoàng hậu” “chân dài đến nách”. Ở VN, tại nông thôn người như anh có nằm mơ cũng không thấy được như thế. Nên anh lấy làm đắc chí lắm.

 Cách đây 7-8 năm người khách nào đến cái chợ này cũng nói rằng đi chợ ở đây như đi chợ tình. Vì công nào cũng có một anh chàng người Việt và một cô Tây xinh như mộng vui đùa ríu rít. Vừa mới chân lấm,tay bùn, được anh em,bạn bè đưa sang rồi cấp cho ít vốn thuê công làm riêng, nhắm cô tây nào xinh xinh vào bán hàng thế là nghiễm nhiên trở thành “ông chủ”. Cứ “đa”và “nhet” rồi lửa gần rơm,bén duyên, cặp kè với nhau như vợ chồng lúc nào không hay. Anh và Larisa quen và lấy nhau cũng trong trường hợp ấy. Buổi đêm chợ búa ế ẩm là lúc anh đùa giỡn,chân tay luôn động chạm với nàng. Khổ nỗi công thì nhỏ mà hàng hóa nhiều nên chật chội. Trở ra,trở vào đều vấp phải nhau. Những cái động chạm đầu tiên của anh làm nàng phản ứng kịch liệt lắm, anh xuề xòa với vốn tiếng Nga khiêm tốn: “Việt Nam tạc nhi che vô”- (Ở VN làm như thế thì không có vấn đề gì). Nàng chỉ biết cười trừ vì đang phụ thuộc vào“ông chủ nhỏ’. Được thể anh càng lấn tới,rồi việc gì đến rồi sẽ đến. Anh và nàng thuê cờ va sống chung với nhau như vợ chồng, và lần lượt hai đứa con ra đời.

       Với hãnh diện là mình lấy được vợ xinh nên anh yêu chiều chị ta lắm. Không bắt động tay,động chân gì hết,cho chị ở nhà chăm chút vào sắc đẹp,còn mình thì lam lũ ngày hai buổi chợ để kiếm tiền lo cho tổ ấm. Vợ được thể tỏ ra lười biếng chẵng gúp đỡ gì cho anh. Rồi những đứa con lần lượt ra đời làm cho gánh nặng của anh tăng thêm vì vợ anh không biết chăm sóc con cái nên phải nhờ cả mẹ đẻ đến giúp đỡ. Thế là một mình anh vất vả kiếm tiền nuôi năm miệng ăn. Nghe chị ta kêu ca chỗ ở chật chội, và nài nỉ vậy là anh cũng cắn răng chiều vợ mua một căn hộ trả góp 7 năm. Mà đâu biết sau này đó là một gánh nặng,một buồn lo nhất trong cuộc đời anh. Anhia và Andrei lớn lên với sự gần gũi mẹ và bà nên chúng nó chẵng biết một chút gì tiếng Viêt cả. Đó là thiệt thòi lớn cho anh,hai đứa chẵng hiểu gì về anh cả, chúng nhiều khi nhìn anh như vô cảm, Thấy anh nhấch nhác hai đứa có vẻ xem thường người cha suốt ngày lam lũ vì chúng.

    Anh bán hàng ở chợ, đêm hôm vất vả là thế mà ít khi kiếm được trên 500 đôla mỗi tháng. Đã thế, anh chiều vợ, đi vay mượn thêm để trả góp tiền căn hộ,rồi tiền hai đứa ăn học, tiền chi tiêu của vợ…Bảy năm ròng như vậy, cực như trâu, song anh không hề than thở. Mà hai đứa con và vợ có hiểu cho anh không? Không. Chị ta cho như vậy là tự nhiên và mấy đứa con cũng vậy. Không bao giờ chúng tưởng tượng được rằng để kiếm được đồng tiền nuôi chúng bố đẻ chúng phải vất vả như thế nào. Và cũng không bao giờ chúng cần phải hiểu. Ai đáng trách trong đó? Mấy đứa con ư? Đã đành; nhưng người mẹ chúng còn đáng trách hơn. Chị ta đã dạy chúng theo kiểu của chị,không bao giờ chị nhắc đến anh trước mặt chúng. Chị không muốn chúng vào đời với một món nợ ở trên đầu,và vất vả. Cho nên không bao giờ chị ta nói: “Bố các con lo cho các con ăn học, thật là lòng rộng như biển cả”. Trái lại chị lại có vẻ như nói: “ồ! ít nhất thì thẳng cha già đó cũng phải làm vậy chớ”.

       Cuộc sống cũng không thể mãi thế. Vợ và con anh dạo này coi anh như người ngoài,đi chợ về một mình anh lủi thủi ăn uống dọn dẹp. Càng về già chân tay càng yếu đi, bước đi chậm chạp,lưng anh lại còng xuống,việc kiếm tiền ngày một kém đi vì sức khỏe. Và cho đến một ngày sau buổi chợ mệt nhọc,anh về gõ của nhà mãi mà chẳng ai mở cửa, vô lý quá, rõ ràng anh có nghe tiếng cười đùa của một nam và nữ?!. Chẳng biết làm gì hơn anh đành đi qua chổ bạn bè ngủ nhờ. Ngày hôm sau anh về gõ cửa thì chị ta ló đầu ra và bảo: “Xasa, i di gu li át”!? (anh đi chỗ khác mà chơi) và bảo anh là, chị ta không muốn vướng bận gì với nhau nữa – hãy tìm chỗ mà khác ở, nhà này không có chỗ cho anh ở nữa”. Anh không tin đó là sự thật nên ngày hôm sau và nhiều hôm khác nữa, anh về gõ của nhưng chị ta đuổi thẳng. Các con anh trước giờ theo mẹ nên nhìn cảnh này chúng lơ đễnh, thấy bố nó lầm lũi bước đi chúng còn chỉ trỏ, cười đùa. Thật đáng thương hại!

      Đời người là cả một sự kiếm tìm, ngoài 50 anh vẫn còn có cơ hội?! Biết vậy mà sao anh thấy mình mệt mỏi quá. Ai có thể cùng anh đi đến cuối cuộc đời? Ai có thể cùng anh sẻ chia niềm đau và hạnh phúc? Giờ anh mới thấm thía lời dăn dò và can ngăn của bố mẹ. Tuổi trẻ của anh,sức khỏe,tiền bạc của anh, anh đã dâng hết cho vợ và hai con. Anh biết mình chẳng thể làm gì để đoạt lại những gì mình đã mất. Anh cũng không thể an ủi mình bằng cách đổ lỗi tại ai,hay tại số phận. Anh ôm nỗi xót xa,nó hành hạ anh từng đêm thức trắng. Giờ đây anh mới chợt đau đớn nhận ra nỗi bất hạnh của mình. Anh biết và anh kêu lên với lòng mình,tại vì: “trâu ta không ăn cỏ đồng ta” – giản dị và buồn như một câu hát cũ. Nghĩ đến đây anh đã òa khóc lên như một đứa trẻ. Anh thấy thương mình quá đỗi,thương như một đứa trẻ dại khờ,cô độc. Nhưng hiểu được mình rồi cũng hiểu là không còn cách nào khác,mặc dù còn đó là những lời an ủi của bạn bè, anh em.

 Độ này nằm ngủ anh hay mơ, trong chiêm bao anh tìm thấy ở nơi đó một nỗi niềm,một mách bảo, một bàn tay ông bà vẫy gọi anh.
                                                                                              Việt Thắng

»Cùng chủ đề