Ngày 01 tháng Giêng 2009, chúng ta kỷ niệm hai năm Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sau hai năm được hưởng quyền lợi đầy đủ của một thành viên chính thức và cũng sau hơn hai năm thực hiện các cam kết WTO, Việt Nam đã hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế thế giới và bước đầu đã thu được nhiều thành công lớn.

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO là bước ngoặt lịch sử của đất nước, có ý nghĩa to lớn trong quá trình hội nhập quốc tế, khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Với tư cách là thành viên chính thức thứ 150 của WTO, Việt Nam có vị thế mới, ngang bằng với các đối tác lớn, có uy tín trong buôn bán và hợp tác đầu tư.

   Tuy chưa có được những đánh giá đầy đủ về tình hình chính trị, kinh tế, đối ngoại, an ninh-quốc phòng của đất nước trong 2 năm qua, nhưng nhìn về tổng thể, đã toát lên những nét chính, cơ bản sau đây:

   Thống nhất nhận thức là thành công đầu tiên và rất quan trọng:

Từ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cấp vĩ mô và vi mô, đến các doanh nghiệp và toàn xã hội, đều thông suốt tư tưởng và thống nhất nhận thức về sự cần thiết, không thể chần chừ, phải nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế để tạo động lực mạnh trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế đất nước, mà trọng tâm là phấn đấu gia nhập WTO. Trong quá trình dài chuẩn bị điều kiện để gia nhập WTO, không ít người, trong đó có cả cán bộ, đảng viên, công chức, băn khoăn, lo lắng, thậm chí lo ngại phức tạp khi ta vào WTO, nên trong xã hội có nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO và đến nay, điều đáng mừng, rất mừng là cả xã hội đã thống nhất tư tưởng, có nhận thức đúng, cách nhìn đúng, đồng thuận tin vào năng lực của đất nước mình sẽ tạo cơ hội mới cho hội nhập thành công.

Sau khi  vào WTO, nhiều lĩnh vực kinh tế khởi sắc, đem lại hiệu quả cao:

Năm 2007 tăng trưởng GDP đạt 8,44% cao nhất trong 10 năm trở lại đây; xuất khẩu đạt trên 45 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm 2006. Tính cho đến tháng 10/2008, xuất khẩu đạt 53,8 tỷ USD, đạt mức tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2007. “Câu lạc bộ xuất khẩu trên 1 tỷ USD” ngày càng đông, năm 2007 có 9 mặt hàng là dầu thô, điện tử, máy tính, dệt may, giầy dép, thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, thì tính cho đến tháng 10 năm 2008 đã đạt con số là 10 mặt hàng (thêm ngành hàng than đá). Hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới không bị phân biệt đối xử, không bị các đối tác ép giá. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đủ sức cạnh tranh với đối tác, xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh, có chất lượng cao, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu cho đất nước.

Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh chưa từng có. Năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, tuy nhiên chỉ tính đến thời điểm tháng 10 năm 2008, đã đạt con số khổng lồ là 953 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 58,3 tỷ USD, tăng 497,7% so với cùng kỳ năm 2007. Theo UNCTAD thì Việt Nam xếp thứ 6 về hấp dẫn đầu tư trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trên thế giới diễn ra gay gắt hiện nay thì Việt Nam được xếp thứ 6 về hấp dẫn đầu tư được coi là động thái mới, là cơ sở cho sự phát triển mạnh và bền vững.

Lượng kiều hối tăng mạnh, năm 2007 đạt trên 7,5 tỷ USD (riêng thành phố Hồ Chí Minh đạt 6 tỷ USD), năm 2008 dự báo hơn 10 tỷ USD, cho thấy bà con người Việt ở nước ngoài luôn nhớ về quê hương, người thân ở trong nước, giúp người thân có vốn làm ăn, sinh sống.

Chính phủ và các cơ quan hữu quan vào cuộc khá nhanh:

Chính phủ triển khai ngay “Chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới”. Nhiều văn bản pháp luật được hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Các Bộ, ngành đều đã có kế hoạch thực hiện lộ trình các cam kết với WTO. Các doanh nghiệp đã sẵn sàng cho cuộc chơi lớn, gia tăng liên kết nhau để có sức mạnh cạnh tranh, để tồn tại và phát triển. Các phương tiện thông tin đại chúng đã vào cuộc một cách tích cực, đúng đắn, không chỉ tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức mà còn góp phần trang bị kiến thức cho toàn xã hội về WTO và khi chúng ta ngày càng hội nhập sâu và đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu….

Phải khẳng định rằng sau khi vào WTO, nền kinh tế Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập quốc tế, cả chiều rộng và chiều sâu, tạo được lòng tin của bạn bè trên thế giới và các nhà đầu tư, tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo của đất nước, mở ra triển vọng lớn đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước có thu nhập thấp, càng thấy rõ chúng ta chủ động hội nhập là hoàn toàn đúng đắn.

Tuy nhiên những hạn chế lớn sau hai năm vào WTO cũng đặt ra cần phải giải quyết. Đó là sự cạnh tranh lớn giữa các sản phẩm của nước ta với doanh nghiệp của các nước. Những doanh nghiệp của nước ta chưa kịp thích ứng và ít hiểu biết về luật pháp quốc tế, quy mô lại nhỏ, công nghệ lạc hậu nên sản phẩm không đủ sức cạnh tranh, phải thu hẹp sản xuất hoặc phá sản, công nhân thất nghiệp dẫn đến những vấn đề xã hội bức xúc. Đây là hạn chế khó tránh khỏi trong qúa trình phát triển. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng cả ở tầm vĩ mô và vi mô, nếu dự báo được trước hiện tượng này trên bình diện cả nước và từng ngành, từng địa phương thì sẽ khắc phục được bằng cơ cấu lại lao động, có chính sách đồng bộ trong đó chú trọng sử dụng lao động có chất lượng cao. Vấn đề hạ tầng cơ sở yếu kém khó có thể đáp ứng được sự phát triển. Vấn đề đất đai và giải phóng mặt bằng rất dễ trở thành những “điểm nóng”. Hệ thống văn bản luật hiện có chưa đồng bộ. Hệ thống tài chính, tiền tệ chưa đủ mạnh. Cải cách hành chính còn nhiều mặt yếu. Nguồn nhân lực, kể cả công nhân kỹ thuật đến chuyên gia còn rất thiếu, khó đáp ứng được yêu cầu hiện nay và sự phát triển. Nhiều vấn đề xã hội còn bức xúc, trong đó phân hoá giàu nghèo biểu hiện ngày càng rõ rệt hơn. Đánh giá về những hạn chế yếu kém của năm 2007, năm chúng ta đã vào WTO, Chính phủ vạch rõ: “sự phát triển của đất nước ta vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, chưa tranh thủ được tốt nhất những cơ hội và thuận lợi mới, chưa đảm bảo hài hoà giữa phát triển kinh tế, với giải quyết các vấn đề văn hoá, xã hội và môi trường; Tốc độ tăng trưởng cao chưa đi liền với cải thiện nhanh về chất lượng, môi trường đầu tư, kinh doanh nhất là thể chế kinh tế, thủ tục hành chính, kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội và nguồn nhân lực đang là những khâu còn rất yếu, bất cập làm hạn chế sự phát triển nhanh của đất nước” (Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XII).

Lẽ đương nhiên: thuyền to sóng cả, chấp nhận hội nhập kinh tế thế giới, đồng nghiã với việc con thuyền đã ra khơi, nơi có nhiều sóng gió, hiểm nguy, nhưng cũng chỉ nơi đó mới có thể hứa hẹn những mẻ cá bội thu. Vấn đề then chốt, cơ bản nhất, đó là tay nghề của người thủy thủ, là bản lĩnh của tập thể, cũng như của từng cá nhân.

 Nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội trước mắt cũng như trong tương lai, Việt Nam cần tận dụng tối đa cơ hội mới nổi lên là thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tăng mạnh xuất khẩu, đồng thời vượt qua thách thức mới khi cùng một lúc tiến hành đồng bộ rất nhiều giải pháp có tính khả thi, riêng với vị trí là thành viên của WTO là điều rất quan trọng; đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường; cải cách các thủ tục hành chính một cách mạnh mẽ hơn; đẩy mạnh đổi mới các doanh nghiệp nhà nước; đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh tranh với các đối tác bên ngoài; tiếp tục vận động và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các dự án lớn, các dự án có công nghệ cao; có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội nhập thế giới. Một vấn đề quan trọng nữa là phải dự báo đúng những tác động của kinh tế thế giới để chúng ta không bị động trước diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế toàn cầu (ví dụ như khủng hoảng tài chính toàn cầu trong thời gian gần đây).

Chúng ta chưa có đầy đủ thông tin để có thể nhìn nhận và đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện được, bởi vì 2 năm gia nhập WTO, là khoảng thời gian qúa ngắn ngủi, nhưng với những thuận lợi và khó khăn đã trải qua và với những thành công mới, chúng ta có thể tự hào về Đảng ta, nhân dân ta với ý chí độc lập, tự chủ, mở rộng quan hệ đối ngoại, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đưa nước ta phát triển bền vững, tăng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, xứng với tầm vóc đất nước hơn bốn nghìn năm lịch sử hào hùng bảo vệ, xây dựng và phát triển non sông gấm vóc.

Trung Kiên

»Liên quan
Người Trung Hoa với WTO

Thứ Ba, 23 Tháng Mười Hai 2008

Ra khơi đón sóng đại dương WTO

Thứ Sáu, 12 Tháng Mười Hai 2008

Mười lợi ích của hệ thống thương mại WTO

Thứ Bảy, 22 Tháng Mười Một 2008

Năm nguyên tắc cơ bản của WTO

Thứ Năm, 06 Tháng Mười Một 2008

WTO - lịch sử hình thành và phát triển

Chủ Nhật, 19 Tháng Mười 2008