Các trung tâm xuất khẩu lao động Việt Nam bóc lột tận xương tuỷ người nhà quê nghèo khổ và đưa họ sang đang lụt trong nợ nần-nhà nước Séc biết điều đó và cho tới nay chỉ „toạ sơn…“. Điều này chỉ lộ ra ánh sáng do tác động của khủng hoảng kinh tế qua những thảm cảnh con người và phiền toái xã hội cấp tính. Chủ yếu là vào lúc này, khi mà nhà nước đang quyết tâm vội vã rũ bỏ người nước ngoài.

Chúng tôi đi qua phân xưởng, nơi làm những cái vỏ hộp trang trí. Nhưng chúng tôi đồng thời không có cái cảm giác, là công nhân của xí nghiệp Kazeto làm việc quần quật vã mồ hôi, vài người trong số họ thấy rõ là rất nhàn hạ. Có thể là do khủng hoảng. Cả ở đây rồi cũng sẽ có sa thải. Chín người Việt Nam đang làm việc ở đây sẽ là những trường hợp đầu tiên, như yêu sách của công đoàn. Họ là người ngoại quốc, hơn nữa lại theo hợp đồng có thời hạn. „Họ đã biết chuyện đó?“ chúng tôi hỏi ông luật sư Marek Pour đại diện của hãng. Câu trả lời rằng là có biết. Nhưng chúng tôi không cảm thấy thế qua cách ứng sử của họ. Theo đề nghị, họ đến ngồi bên cạnh chúng tôi, mỉm cười rất lễ độ, trả lời các câu hỏi và nói, rằng họ thích công việc ở đây và muốn được tiếp tục. Thế nhưng bây giờ không còn chỗ cho những hy vọng ấy. Kazeto sẽ buộc phải sa thải cả hai trăm công nhân Séc và đổ hết hy vọng vào chi nhánh mới của mình ở Serbia. „Giá nhân công ở đó chỉ bằng một nửa,“ luật sư Pour cho biết.

Như với những mớ rau…

Nhóm làm việc của La Strada, tổ chức nhân đạo theo dõi điều kiện sống của công nhân Việt Nam trong các nhà máy xí nghiệp của CH Séc theo đơn đặt hàng của Bộ Nội vụ đã lưu ý cho chúng tôi biết về tình hình ở Kazeto. Khảo sát của Eva Pechová và Michal Kreb khi thực hiện với hàng chục người Việt Nam ở Kazeto, họ đã than phiền trong nước mắt, rằng chỉ nhận được một phần tư tiền lương so với mức hứa hẹn, rằng họ không có cả tiền ăn và họ bị đối sử như với „những mớ rau“ và rằng mọi thứ đều hoàn toàn khác với lời hứa hẹn của các trung tâm xuất khẩu lao động ở Việt Nam. Và rằng cả phiên dịch cũng không giúp gì. Vì thế cho nên chúng tôi thoả thuận với giám đốc Kazeto là Libor Budík, rằng chúng tôi sẽ đến Přerov để tìm hiểu.

Mang tiếng, rằng Kazeto là nhà cung cấp sản phẩm cho mạng siêu thị IKEA tại khắp châu Âu, nhưng toà nhà ban giám đốc không có gì hoành tráng và văn phòng giám đốc cũng nghèo nàn. Libor Budík là người đàn ông trẻ và qua những biểu hiện nhất định cho thấy có sự chuẩn bị cho cuộc gặp với chúng tôi. Ngoài anh ta còn có cả luật sư Pour và trước họ là chồng tài liệu. Nhà máy đã tự tuyển dụng trực tiếp năm mươi người Việt Nam, là công nhân gốc có hợp đồng với nhà máy. Đại diện của công ty đã cho rằng như thế sẽ rẻ hơn so với thuê qua trung tâm môi giới. Chẳng ai biết vì sao mà người Việt Nam bỏ họ ra đi tới „chỗ tốt hơn“, vì rằng chẳng thấy ai than phiền gì cả. Theo vị luật sư, thì có lẽ là lỗi của việc đối thoại. „Làm sao mà các bạn có thể giải thích được cho họ lương siêu thô là gì?“ Ông ta đưa cho chúng tôi xem các hợp đồng lao động và bảng lương. Đồng lương thực tế kiếm được ở đây khác nhau từng tháng-nhưng dù sao thì cũng dao động ở mức mười nghìn tiền sạch, và đó cũng là mức hứa hẹn có cả trong những đề nghị bằng văn bản mà căn cứ vào đó để các trung tâm môi giới xuất khẩu lao động Việt Nam tuyển người. Theo những người Việt Nam, thì lẽ ra xí nghiệp phải thanh toán cho họ cả chi phí nhà ở và quần áo. Thế nhưng trong hợp đồng thì chỉ ghi, rằng họ sẽ được cung cấp. „Chúng tôi ở đây đã vài lần bị kiểm tra, toàn bộ nhà máy bị cảnh sát dẫn chó nghiệp vụ bao vây, làm sao mà chúng tôi có thể gian lận được một cái gì?“ luật sư Pour chỉ vào trán và tập tài liệu khẳng định lẽ phải của ông ta.

Trong cuộc họp của Bộ nội vụ CH Séc với đại diện người Việt Nam tại Praha 3/3/2009

 Nếu như không phải gánh nợ nần

Nguyên nhân của tình hình tồi tệ hiện nay mà người Việt Nam đang hứng chịu không thể chỉ đổ cho xí nghiệp. Để những người ngoại quốc này có thể tới Kazeto làm việc, họ phải có giấy phép lao động trước khi nhận được thị thực. Giấy phép lao động có hiệu lực một năm. Trong khi đó cái thủ tục thị thực đã ngốn mất sáu tháng trời, và khi mà cuối cùng họ tới được Kazeto vào tháng ba năm ngoái, thì giấy phép lao động chỉ còn hạn có nửa năm. „Dĩ nhiên chúng tôi chỉ ký với họ hợp đồng lao động có thời hạn nhất định, bởi chúng tôi không có gì bảo đảm chắc chắn, là sở lao động sẽ ra hạn giấy phép cho họ,“ luật sư Pour nói. Và nỗi lo ngại này hợp lí, bởi khủng hoảng đã đến CH Séc từ tháng 9. Nghĩa là bây giờ người Việt Nam không có việc và cũng không có cả giấy phép lao động. Và họ nợ nần chồng chất. Mỗi người trong số họ phải chi cho trung tâm môi giới xuất khẩu lao động khoảng mười nghìn Mỹ kim. Về nước trước thời hạn đối với họ là điều không thể chấp nhận-bởi ở Việt Nam thì có làm cả đời cũng không thể trả hết món nợ ấy.

Những công nhân có đầu óc kinh doanh

Vì sao mà người Việt Nam muốn sang lao động tại CH Séc phải chi những khoản tiền lớn như vậy, với người Séc thì không thể có được lời giải thích hợp lí nào. Đã từ rất lâu những thủ đoạn bất minh trong thủ tục giải quyết thị thực được nói đến. Từ tháng một năm 2008 đến tháng mười năm ấy, Đại sứ quán ở Việt Nam đã cấp ra hơn bốn nghìn thị thực kinh doanh, nhưng chỉ có gần một nghìn thị thực lao động. Chủ tịch Hội Séc-Việt Marcel Winter và ngay cả cộng đồng người Việt Nam liên tục lưu ý đến tình trạng này. Cả Winter khi muốn đưa sang hơn một trăm thợ hàn cho các đối tác của ông ta trong khuôn khổ chương trình Hỗ trợ lẫn nhau, nhưng cũng không lấy được thị thực, mặc dù số thợ hàn này đã trải qua sát hạch theo tiêu chuẩn CH Séc và các công ty chờ đợi họ. Vì sao mà thị thực kinh doanh được cấp ra nhiều như vậy, mặc dù thực tế đó không phải là những doanh nhân tương lai, và ngược lại thị thực lao động lại hết sức gian nan? Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Zuzana Opletalová giải thích, rằng nhận được thị thực kinh doanh đơn giản hơn-và vì thế nên dễ bị lạm dụng. „Chúng tôi không thể tác động được, rằng họ tin vào các trung tâm môi giới khi khẳng định „biết cách giải quyết“ điều đó,“ người phát ngôn khẳng định. Và chuyện này thì chỉ có thể nói rõ thêm, rằng đúng là các trung tâm môi giới biết cách làm „điều đó“: „Những lá đơn hoàn toàn hợp lệ nhận được từ ĐSQ lơi phê chuẩn tán thành và được giải quyết thoả đáng,“ Zuzana Opletalová giải thích cái lí do vì sao mà nhiều „doanh nhân“ tràn sang đây đến thế.

Nhưng một câu hỏi vẫn còn bị bỏ ngỏ, là vì sao mà nhiều nhà máy mặc dù đã làm hết sức mình nhưng cũng không thể đưa được bất kỳ người nào sang bằng thị thực lao động. „Tôi từng cho rằng, nếu như điều kiện cấp thị thực nghiêm ngặt, thì tình hình sẽ được cải thiện,“ ông Le Minh Cau, Chủ tịch hội các văn phòng môi giới lao động tại CH Séc nói. „Nhưng bây giờ tôi thấy, rằng đó là suy nghĩ nhầm lẫn,“ ông ta nói thêm. „Tại Hà Nội mặc dù đã hình thành cái gọi là call center, nhằm hạn chế hối lộ trong dòng người xếp hàng chờ trước Đại sứ quán, nhưng tất cả vẫn đi theo con đường cũ. Chỉ có những ai trả tiền mới gọi đến được. Chúng tôi vẫn không thể đưa được ai sang đây bằng thị thực lao động. Chỉ có mỗi một thay đổi duy nhất, là tất cả những người Việt Nam nghèo khổ sang được tới đây phải chi thêm nhiều tiền hơn nữa.“



Cảnh xếp hàng trước ĐSQ Séc tại Hà Nội với những câu chuyện huyền thoại về hối lộ…
Câu chuyện mang tên hối lộ

Cả những người đã đến được Kazeto cũng đã biết thế nào là thủ đoạn mờ ám khi giải quyết thị thực: „Chúng tôi tới ĐSQ để hỏi, là liệu chúng tôi có thể nộp đơn đề nghị cấp thị thực chung cho cả nhóm. Nhưng nữ nhân viên phòng Lãnh sự khăng khăng đòi đòi chúng tôi phải có hợp đồng môi giới, nếu không chúng tôi sẽ không được cấp thị thực. Nhưng vì sao mà phải có hợp đồng môi giới, khi mà chúng tôi muốn tuyển công nhân không qua trung gian và chúng tôi muốn tự mình giải quyết thủ tục cho họ? Cuối cùng thì chúng tôi cũng buộc phải kiếm cái hợp đồng nào đó, nếu không thì không thể có thị thực,“ luật sư Marek Pour nói. Theo vị luật sư, thì sau đó nhà máy muốn đưa thêm nhóm công nhân khác nữa sang, nhưng khi đòi hỏi về cái hợp đồng môi giới lại được đưa ra, thì nhà máy đầu hàng. „Chúng tôi đã viết nhiều đơn thư, chúng tôi muốn nói chuyện với ông Đại sứ, nhưng không ai muốn gặp chúng tôi cả,“ luật sư Pour nhớ lại.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao giải thích điều này như thế nào: „Theo những thông tin mà tôi có được, thì ở Việt Nam tất cả những ai muốn ra nước ngoài lao động phải được nhà nước Việt Nam cho phép-nghĩa là phải ra đi thông qua các trung tâm xuất khẩu lao động được nhà nước cấp giấy phép hoạt động, nhưng đó không phải là điều kiện do phía CH Séc đưa ra.“ Vậy thì tại sao nhà nước Séc lại phải đi xác minh cái điều mà mình không đòi hỏi? Chỉ có một vài trung tâm xuất khẩu lao động Việt Nam tầm cỡ chiếm độc quyền đưa người Việt Nam ra nước ngoài lao động. Và mỗi người Việt Nam sang được đến đây đều phải nợ chính những trung tâm này. Theo Cục trưởng cảnh sát ngoại kiều Ladislav Husák, thì đó là chuyện của họ: Mắc nợ là việc của những người ngoại quốc ấy, họ tự quyết định, chứ không có ai ép buộc họ điều gì. Còn bây giờ thì phải gánh lấy hậu quả những quyết định của mình.“

Hiện nay Chính phủ Séc phải có những phản ứng trước tình trạng người ngoại quốc thất nghiệp. Một trong những cách giải quyết: trang trải chi phí và cho thêm năm trăm euro rồi đưa họ về nước. Chương trình đã được tiến hành. Nhưng cộng đồng người Việt Nam từ trước đã cảnh cáo, rằng với người Việt đầm đìa nợ nần thì chương trình này không phù hợp. Với những người đang phải gánh món nợ cỡ một phần tư triệu korun thì món tiền chưa đầy 15 nghìn korun không mấy thuyết phục. Điều này đã được khẳng định: chỉ có người Mông Cổ hay Uzbekistan, phải chi cho môi giới số tiền ít hơn rất nhiều mới quan tâm đến chương trình Hồi hương tự nguyện. Hơn nữa biểu mẫu các tờ khai đều bằng tiếng Séc nên nhiều nhiều không thể đăng ký vào chương trình mà không cần người môi giới-và môi giới thì cũng đòi trả công. Trong chương trình tranh luận Những câu hỏi của Václav Moravec, Bộ trưởng Nội vụ Ivan Langer đã nói đến chuyện thắt chặt chế độ kiểm tra mạnh tay với những người ngoại quốc không muốn hồi hương tự nguyện mà chọn cách ở lại sống bất hợp pháp. Nghĩa là chúng ta sẽ sớm chứng kiến những cuộc săn lùng người ngoại quốc, như là một hành động trấn chỉnh tình thế, mà nhà nước dù nhiều hay ít cũng có phần gây ra.

Bài viết của hai tác giả Markéta Kadlecová và Jitka Polanská trên tạp chí A2 số ra ngày 05/03/2009. David Nguyen chuyển ngữ.

Ánh Hồng
theo Vietinfo