Khi mực nước biển tăng một mét, 5% diện tích đất nông nghiệp Việt Nam sẽ bị chìm. Vì vậy, giáo sư Nguyễn Quốc Vọng, kiều bào Australia, đang nỗ lực đưa giống lúa chịu ngập, mặn, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng Việt Nam về quê hương.

Có thể nói bầu nhiệt huyết vì sự phát triển nền  nông nghiệp nước nhà dường như chưa bao giờ nguội lạnh trong giáo sư Nguyễn Quốc Vọng. Tình cảm ấy được ông cụ thể hóa bằng những đề tài khoa học đầy tính thực tiễn. Ông hiện là giám đốc Trung tâm Phát triển quốc tế, ĐH Nông nghiệp 1 Hà Nội.

Những nghiên cứu bắt nguồn từ cuộc sống  

Phóng viên Đất Việt đến gặp giáo sư Vọng khi ông đang hướng dẫn sinh viên lai tạo một giống cà chua mới, có thể để lâu mà không cần dùng bất cứ loại thuốc bảo quản nào. “Đây là giống cà chua tôi mang từ Australia về, bảo quản được lâu, khi hỏng thì khô dần chứ không bị ủng thối như cà chua ở Việt Nam. Đặc tính này rất có lợi cho việc xuất khẩu cà chua ra nước ngoài”, ông hồ hởi nói. Bàn bên cạnh là giống cà chua quả nhỏ xíu nhưng có hàm lượng vitamin lên đến 30%, trong khi cà chua ở Việt Nam hiện chỉ đạt từ 7-8%. “Nếu cấy gene thành công, cà chua quả to của mình cũng có lượng vitamin tương đương của Australia”, ông cho biết.

Mải mê lai tạo nhiều giống rau quả đem về từ nước bạn nhưng ông vẫn không khỏi lo lắng khi diện tích trồng lúa của Việt Nam sẽ giảm dần do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khi mực nước biển tăng thêm một mét, Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 5% diện tích đất nông nghiệp bị chìm dưới nước. Thực tế này đòi hỏi nông nghiệp nước nhà phải có biện pháp thích ứng, mà “cách tốt nhất là lai tạo một giống lúa có khả năng chịu ngập mặn”, giáo sư chia sẻ.

Ông cho biết, hiện một số nước trên thế giới đã nghiên cứu thành công giống lúa chịu ngập, mặn. Giống lúa này sẽ “ngủ” suốt thời gian ngập dưới nước, ngừng toàn bộ quá trình sinh trưởng, và “thức dậy” khi nước rút đi mà vẫn đảm bảo năng suất, chất lượng. Tuy nhiên, Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) mới chỉ cấy ghép gene này vào giống lúa hạt tròn, chứ chưa phải loại hạt dài thường thấy ở Việt Nam. Nhờ vào uy tín cá nhân, ông đã liên hệ với đồng nghiệp ở Mỹ để họ cung cấp gene quý này, từ đó nghiên cứu và lai tạo giống lúa chịu ngập mặn phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng ở Việt Nam. “Tháng 7 này, đồng nghiệp của tôi sẽ sang làm việc với ĐH Nông nghiệp 1 để thảo luận kế hoạch hợp tác. Công việc của tôi bây giờ là tìm hiểu, kết nối với các viện, trường trong nước để thúc đẩy đề án”, ông nói.


Thương yêu tiếng Việt

Trả lời câu hỏi động lực nào đã thôi thúc một nhà khoa học thành danh nơi xứ lạ như ông trở về và cống hiến miệt mài, giáo sư Vọng tâm sự: “20 năm kể từ lần đầu tiên về nước năm 1979, tôi không thể nào quên buổi sáng thức dậy ở khách sạn Dân Chủ (Hà Nội), được nghe lao xao tiếng nói cười xung quanh, với một ngôn ngữ rất thuần Việt. Tôi hạnh phúc lắm”. Sau bao năm du học, hết ở Nhật Bản rồi Australia, rất ít khi ông được sống trong một môi trường trong trẻo và ngọt ngào tiếng quê hương như thế. Cảm giác ấy, chỉ có những người đi xa như ông mới hiểu. Đó cũng là lý do bao nhiêu năm xa xứ, ông vẫn giữ được chất giọng Huế đặc trưng.

Càng có dịp đến những vùng miền của Tổ quốc, giáo sư Vọng mới hiểu vì sao cha mình, cụ Nguyễn Đình Thư, lại kiên cường trước đòn tra khảo tàn khốc của thực dân Pháp đến thế. Rưng rưng nước mắt sau cặp kính, ông Vọng nhớ lại: “Tôi mồ côi cha khi mới hai tuổi. Cha tôi không chịu khuất phục, nên đã bị giặc Pháp thiêu cháy bằng cách thu hẹp dần vòng lửa tra khảo”. Hình ảnh đó luôn theo giáo sư Vọng, thôi thúc ông trở về.

Nói về cảm nghĩ khi về Việt Nam sống và làm việc, giáo sư Vọng rất vui: “Ở ĐH Nông nghiệp 1, tôi đang hướng dẫn các em sinh viên quen với phương pháp học chủ động. Nhớ buổi đầu tiên lên lớp, tôi hỏi có ai ý kiến gì không, cả lớp im lặng làm tôi rất ngạc nhiên. Sau đó, tôi tìm hiểu mới biết các em đã quen với cách học nghe, ghi chép từ nhỏ. Sau một thời gian trao đổi về cách học, giờ các em chủ động và tích cực hơn rồi. Với tôi, đó đã là một thành công”.

Ánh Hồng
theo Đất Việt