Nghĩ về quê bởi Nguyễn Quang

Đi trên xa lộ Láng – Hoà Lạc, giữa cánh đồng mênh mang trong mây khói chiều thu, một cái quán xưa mái cong cong như lưng lợn ỉn, một cây gạo thân xù xì cụt cành… lòng bỗng se lại: Quê ta! Dù có đứng cả hai chân trong đô thị, ta hãy ngoái về quê, thành thị và văn hoá dân tộc bắt nguồn từ đó.

Được cái tiếng người Hà Nội gốc, nhà tôi vẫn có quê. Hình như người mình ai cũng vậy (?). Cho dù hôm nay đã mon men đến ngưỡng văn minh đô thị hiện đại, ta vẫn nhận ra những sợi dây ràng buộc ta với quê. Trên thế gian này, không biết ai hơn người Việt mình gắn bó, thiết tha, ray rứt với cái chữ “quê ” đơn sơ ấy.

Cha tôi kể, vợ quan Tổng đốc Hoàng Diệu, hay tin chồng tuẫn tiết, ngã sấp mặt xuống thửa ruộng bà đang cấy.

Quê tôi trên đất Hà Đông cũ. Tên nôm là Lủ, tên chữ là Kim Lũ. Nay Đại Kim, bị lấn át bởi đô thị, cái mới xen lẫn với cái cũ, cũ kỹ về tổng thể , đó là quê tôi hôm nay. Nhìn đó, mấy ai biết đây là quê của: Thượng thư quản lục bộ Nguyễn Công Thể ở thế kỷ 18; Cụ phó bảng lừng danh Nguyễn Siêu ở thế kỷ 19; Lại bộ thượng thư Nguyễn Trọng Hợp và của nhiều danh nhân đất Hà thành. Cũng mấy ai mà biết cái làng cổ ven đô này đã từng sống và từng được biết bởi nghề làm kẹo bột và chè lam.

Năm xưa, người quê đề cao cái “chung”: sân hợp tác choán hết cả không gian đình và chùa, nhà ban chủ nhiệm hợp tác xã trông đường bệ nhất làng. Nay về quê, cái “riêng” át cái “chung”: sân phơi hợp tác xã thành tàn dư, nhà dân xây cao 3-4 tầng , làm cái giống hệt cotenơ. Chỉ tội những con đường làng lát gạch từ thuở nào chẳng ai nhớ, giống hệt hàm răng cụ già, mòn và sứt.

Trẻ em vùng quê mùa gặt.

Làng quê, cùng đất nước, đang chuyển mình. Ăn đã no, mặc đã lành, ở kiên cố hơn. Tuy ít được chú ý được bàn luận tới, làng quê xưa cũ của đất Việt cũng đứng trước những vấn đề và thách thức như các đô thị. Đó là làm thế nào giữ gìn: những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống; cái quý, cái riêng của quỹ kiến trúc làng… Bầu không khí trong lành và êm dịu vốn là tài sản của mỗi xóm làng làm sao để tránh được sự ô nhiễm theo các cách hiểu khác nhau và quy hoạch, kiến trúc làng quê phát triển theo đường hướng nào?

Văn hoá, kiến trúc làng là những biểu hiện sâu và đậm của nền văn minh ăn ở của nền kiến trúc Việt. Làng rèn đúc, gạn chiết, duy trì và phát triển chậm chạp mà bền vững những trụ cột, truyền thống và giá trị vật chất lẫn tinh thần của người Việt qua mọi biến hóa của lịch sử.

Trong sự biến động cội rễ diễn ra ở nửa sau thế kỷ 20 và sự phát triển đột biến ở phần cuối thế kỷ này, khung cảnh và kiến trúc làng quê biến đổi hẳn, không thua kém gì đô thị. Đường sá tiện lợi hơn, nhà cửa khang trang lên, các công trình công cộng trở nên quen thuộc ở mỗi làng. Song ta không thể không nhận ra những sự xộc xệch, biến dạng của cơ thể xóm làng đang là nguy cơ dẫn đến sự mất cân bằng, thậm chí sự suy thoái nào đó đang đi kèm sự phát triển.

Lâu nay chúng ta nói nhiều và làm cũng khá nhiều để hiểu để giữ gìn khu phố gọi là cổ ở: Hà Nội, Hội An… Song, vấn đề bảo tồn di sản kiến trúc làng quê Việt mới được đặt ra. Làng cổ Đường Lâm ở Hà Tây, duy nhất được cho lập dự án bảo tồn, song vì những lí do nào đó mà công việc dậm chân tại chỗ. Vài năm trước đây, các bạn Nhật Bản chủ động triển khai nghiên cứu nhà ở nông thôn truyền thống ở các địa phương và thuê Cục Bảo tồn – Bảo tàng tổ chức đo vẽ hàng trăm căn nhà. Cảm ơn tầm nhìn xa và thái độ đối với khoa học của các bạn Nhật. Song, sao không phải là chính chúng ta khởi xướng việc ấy.

Có một làng Thổ Hà ở Bắc Giang, bốn bề sông nước, đất chật chội mà có đủ: đình, chùa, đền, miếu, quán, cổng làng, cổng ngõ, những nhà cổ và cũ, những cây đa, cây si cổ thụ. Hơn thế nữa, có nghề gốm sành tồn tại 4 – 5 thế kỷ, nghề nấu rượu với thương hiệu làng Vân nổi tiếng cùng các đồ nhắm sướng miệng. Nếu biết duy trì, tìm ra phương thức phát huy và phát triển phù hợp, đây sẽ là một “làng – bảo tàng” văn hoá dân tộc, lấy di sản văn hoá làm ăn như là chỗ dựa để phát triển. Hội An đang là một kinh nghiệm theo hướng này.

Xã Đường Lâm ở gần Sơn Tây gồm cả một cụm làng cổ thuần Việt : Mía, Mông Phụ, Cam Đà, Cam Lâm… quê hương của Phùng Hưng, Ngô Quyền.

Những ngôi làng toạ lạc trên những quả đồi đá ong, dùng đá ong để xây tường, xây cổng. Hàng trăm căn nhà có độ tuổi một, hai trăm năm. Chùa Mía từ thế kỷ 16, các ngôi đình thời Hậu Lê và đầu Nguyễn… khung cảnh còn lưu vẻ thôn quê Việt nhuần nhị, đi đến đâu cũng muốn vẽ, muốn chụp.

Cách Đường Lâm không xa, các đình: Tây Đằng thế kỷ 16, Chu Quyến thế kỷ 17, Đông Viên và Quang Húc thế kỷ 17 – 18… Một bộ một sưu tập có một không hai của nền kiến trúc Việt, cội Việt. Đây là cả một vùng đất mang đậm bản sắc địa phương. Đi một ngày, thấm ngay và thấm sâu chất Việt hồn Việt. Cách Hà Nội không xa, mà khuôn mặt, mà tiếng nói, cách ăn uống và cách ứng xử, đã có nhiều dị biệt. Đối với vùng đất này, có thể không chỉ đặt vấn đề nghiên cứu và bảo tồn một làng, mà cần nghiên cứu và xác lập hệ thống các làng di sản, các di tích, để giữ gìn trong hệ thống. Nhất là khi làng văn hoá và du lịch Việt Nam ở Đồng Mô hình thành, hệ thống di sản này sẽ là một “chi nhánh” vô giá để chứng tỏ, để minh hoạ xác thực cho nền văn hoá Việt.

Bảo tồn và phát huy giá trị những di sản văn hoá và kiến trúc làng quê là một công việc mới mẻ, đặc thù và phức tạp hơn rất nhiều so với các di tích. Song đã đến lúc không chỉ đặt vấn đề bảo tồn ngôi đình, ngôi chùa trong làng. Đã đến lúc đặt vấn đề bảo tồn và phát huy những làng cổ, có giá trị không kém gì mấy các khu phố cổ. Cùng với đó là việc bảo tồn những chiếc cầu làm bằng đá, gạch ở làng. Giữ lại những khung cảnh cổ, cũ và đẹp, đáng yêu và đáng nhớ ở chốn quê ta, mà không đợi chờ sự công nhận chính thức của các cơ quan văn hoá. Bởi thiếu những cái đó, quê ta sẽ đánh mất đi rất nhiều.

Đi trên xa lộ Láng – Hoà Lạc, giữa cánh đồng mênh mang trong mây khói chiều thu, một cái quán xưa mái cong cong như lưng lợn ỉn, một cây gạo thân xù xì cụt cành…lòng bỗng se lại: Quê ta! Dù có đứng cả hai chân trong đô thị, ta hãy ngoái về quê, thành thị và văn hoá dân tộc bắt nguồn từ đó.

KTS Hoàng Đạo Kính (Báo