Nâng “vốn xã hội” bởi Nguyễn Quang

Bà Charlene Barshefsky, “kiến trúc sư” của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ cho rằng, khủng hoảng buộc các quốc gia phải cải tổ cơ cấu kinh tế, không có con đường nào khác. Với Việt Nam, con đường này ra sao? Ông Trần Sĩ Chương luận bàn.

Quốc gia cũng như một cá nhân, khi có khủng hoảng, phải định dạng vấn đề là gì; Định vị mình đang ở đâu trong bối cảnh này. Ở một vị trí khác nhau, mỗi quốc gia và cá nhân có cách nhìn nhận và đối đầu với vấn đề khác nhau. Có nhìn đúng vấn đề thì mới phản ứng chuẩn.

Vấn đề của Việt Nam là làm sao đỡ lệ thuộc quá lớn vào xuất khẩu và vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Điều này gắn với việc buộc phải chuyển dịch cơ cấu, theo hai hướng: thị trường tiềm năng ở nước ngoài  còn cầu để khai thác và thị trường nội địa.

Muốn khai thác thị trường tiềm năng phải xác định thị trường ở đâu, tiếp cận thế nào và cái giá của việc tiếp thị là chi phí cao. Do đó, thị trường nội địa phải là hướng đầu tiên Việt Nam nên hướng tới.

Thị trường nội địa của Việt Nam lớn. Dân số của ta trẻ (65% dưới 30 tuổi), đang ở giai đoạn đầu tư và tiêu thụ của cuộc đời. Vừa qua, chúng ta hăm hở xuất khẩu, quên tổ chức khâu phân phối trong nước. Giống như đường huyết mạch trong cơ thể, không có kênh phân phối thì hàng hóa không thể dịch chuyển được về nơi có cầu.

Và vì lâu nay ta bỏ quên, nên đến lúc này, chúng ta cũng chưa đo lường được tốt khả năng khai thác thị trường nội địa như thế nào.

Bây giờ, ta phải bắt tay nghiên cứu thị trường tiềm năng trong nước, cũng là lúc khai thác khâu phân phối. Trong tương lai, khi nước ngoài vào, họ cũng cần khâu phân phối. Đó chính là giá trị gia tăng cho đầu tư của họ và cũng là lợi ích của Việt Nam.

Tuy nhiên, làm việc này phải hết sức thận trọng bởi vì chính sách thay thế nhập khẩu (qua việc giới hạn nhập khẩu và thay thế bằng hàng sản xuất trong nước) chỉ có giá trị giới hạn. Nếu dùng lâu, sẽ lờn thuốc, giảm tình cạnh tranh của DN trong nước.

Đơn cử, khẩu hiệu “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” nghe thì hay nhưng lại không hoàn toàn đúng, bởi người Việt Nam xứng đáng được dùng hàng có giá trị cao nhất (giá, chất lượng, dịch vụ khách hàng…), chứ không nhất định vì là người Việt Nam nên phải dùng hàng Việt.

Trong quá trình này, muốn giảm ảnh hưởng của việc mất tính cạnh tranh, chúng ta cần có chính sách cân bằng, xã hội hóa các cơ hội phát triển thị trường nội địa, kể cả những dự án phát triển hạ tầng cơ sở có giá trị lớn.

Nhà nước không nên chủ động quyết định ai làm phân phối, và Nhà nước hỗ trợ gì. Nếu không, chúng ta sẽ làm mất công bằng và cân bằng trong lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế trong nước. Điều này tiềm ẩn những rủi ro lớn, ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của cả nền kinh tế khi kinh tế thế giới phục hồi.

Trong bối cảnh hiện nay, lựa chọn của Việt Nam có giới hạn. Chúng ta không có sự lựa chọn hay nhất, mà phải biết chọn cái tốt nhất trong những tình huống xấu còn lại để vượt qua khủng hoảng.

Cốt lõi của vấn đề là cầm cự nhưng không được làm mất tính cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời chuẩn bị năng lực cạnh tranh để phục hồi và sau phục hồi.

“Lách” luật

Chúng ta cũng cần thận trọng với hàng nhập khẩu, chỉ nhập những hàng thực sự cần để phục vụ sản xuất những mặt hàng có giá trị gia tăng cao và xây dựng hạ tầng có tính phát triển lâu dài.

Những hàng xa xỉ phẩm cần tăng thuế để giảm cầu trong nước.  Sẽ có những ràng buộc do hội nhập và các cam kết quốc tế để Việt Nam phải tuân thủ.

Tuy nhiên, chúng ta phải định hướng chiến lược làm gì rồi tính cách làm thế nào sau. “Lách luật” nhưng không phạm luật. Ví dụ dùng các biện pháp hành chính chẳng hạn. Những năm 1980s ở Pháp, để bảo vệ ngành ô tô trong nước trước làn sóng nhập khẩu xe ô tô từ Nhật Bản, nước này quy định các hàng nhập khẩu chỉ được làm giấy tờ thủ tục trong vài tiếng đồng hồ trong ngày…

Tuy nhiên, trước khi làm gì với người khác, chúng ta phải kỉ luật với mình trước. Việt Nam phải nhìn lại mình, thấy chuyện gì chưa đúng thì sửa, thấy chuyện gì đúng mà chưa làm thì bây giờ làm. Cũng như xưa nay chúng ta biết hút thuốc có hại cho sức khỏe, nhưng không bỏ được, bây giờ có bệnh, trước khi tìm bác sĩ nào, uống thuốc gì, thì việc đầu tiên là phải bỏ thuốc lá.

Phải biết sống đàng hoàng

Trong khủng hoảng, cần nhất là phải sống đàng hoàng với nhau, để tạo niềm tin trong xã hội, niềm tin giữa con người với con người trong giao dịch xã hội và kinh doanh, giữa con người với nhà nước, với xã hội.

Nhớ lại trong cuộc nói chuyện với DN Việt Nam và Singapore, Bộ trưởng Phát triển Singapore, ông Mah Bow Tan đã nói: “Mong các bạn DN Việt Nam tin và làm việc với Chính phủ và DN Singapore vì chúng tôi chủ trương làm những gì mà chúng tôi nói. Các DN Singapore cũng cần nhớ rằng, thương hiệu tốt nhất của Singapore là chúng ta làm cái gì chúng ta nói”.

Đó chính là tiêu chí rõ nhất để tạo niềm tin trong xã hội. Và niềm tin ấy chính là vốn xã hội, cái vốn cao nhất, cao hơn tiền bạc và tài nguyên quốc gia cho sự phát triển bền vững của xã hội.

Các nước phát triển nhanh nhất ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đều không giàu tài nguyên, nhưng họ phát triển nhờ vốn xã hội cao, từ vốn văn hóa, xã hội, chính trị và dựa vào lòng tin trong xã hội.

Để tạo lòng tin, cần tăng tính tiên liệu được của chính sách, thực hiện cải cách hành chính, xây dựng khung pháp lý minh bạch, dễ hiểu, dễ tuân thủ để DN khi tính chuyện làm ăn, có thể tính được điều gì có thể xảy ra.

Chúng ta may mắn có được số vốn tích lũy rất lớn trong dân. Nâng được lòng tin, chúng ta mới kích được số vốn này từ dân để đầu tư trong nước, giảm lệ thuộc vào FDI.

Đặc biệt trong bối cảnh sau khi phục hồi, các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc sẽ tích cực cạnh tranh cho dòng vốn đầu tư từ nước ngoài, Việt Nam sẽ gặp khó khăn. Việt Nam cần phải tích cực chuẩn bị cho giai đoạn này.

Dâng nước để mọi thuyền cùng lên

Lúc này, Nhà nước nên tập trung nội lực tạo điều kiện chung cải thiện môi trường kinh doanh, để tất cả cùng có lợi. Dâng nước để mọi thuyền cùng lên.

Như một vũ công trên sàn diễn, các DN Việt Nam có khiếu nhưng với “cái cùm” trên vai, dù họ có khéo cỡ nào cũng khó mà nhảy đẹp được.

Hiện nay, ta đang thực hiện kích cầu, khác nào mua thuốc tăng lực cho người đang bị ốm để có sức khuân vác. Thuốc vừa tốn kém lại chưa hẳn đã đúng và đủ liều, lại chưa kể tới các biến chứng khác. Trong khi đó, việc dễ làm hơn và không tốn kém, trừ ý chí chính trị cao, là dỡ đi gánh nặng về môi trường pháp lý, thủ tục hành chính cho họ, thì sao không lựa chọn lam ngay.

Làm được điều này, ta sẽ tăng được tính cạnh tranh một cách hiệu quả, công bằng và có giá trị lâu dài nhất.

Không giải quyết được chuyện này, Việt Nam chỉ có lợi thế cạnh tranh duy nhất là giá nhân công rẻ. Và để giữ cạnh tranh, không cách nào khác, ta sẽ phải ép giá nhân công. Điều này sẽ đi ngược lại mục tiêu của tăng trưởng là tăng thu nhập, tạo sự phát triển xã hội có chất lượng lâu dài cho người dân.

Lê Hùng
theo VNN