(DN.ODESA) – Nhiều lĩnh vực khác của các hiệp định WTO cũng có thể giúp giảm bớt tệ tham nhũng và chính phủ xấu xa. Sự minh bạch, các tiêu chí rõ ràng hơn về các quy định đối với sự an toàn và chuẩn mực của sản phẩm, và sự không phân biệt đối xử cũng giúp giảm bớt tình trạng gian dối và việc ra quyết định mang tính độc đoán…

<!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-language:RU;} p.normal, li.normal, div.normal {mso-style-name:normal; mso-margin-top-alt:auto; margin-right:0in; mso-margin-bottom-alt:auto; margin-left:0in; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman"; color:black; mso-fareast-language:RU;} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:56.7pt 42.5pt 56.7pt 85.05pt; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} -->

1. Hệ thống này giúp
gìn giữ hoà bình

   Hoà bình phần nào là một thành quả của hai nguyên tắc cơ bản
nhất của hệ thống thương mại: giúp thương mại được thuận buồm xuôi gió và đưa
đến cho các nước một lối thoát bình đẳng và mang tính xây dựng để giải quyết
những bất đồng về các vấn đề thương mại. Đó cũng là một kết quả của sự hợp tác
và lòng tin quốc tế do hệ thống này tạo ra và duy trì.

   Lịch sử bị vấy bẩn bởi những tranh chấp thương mại dẫn đến
chiến tranh. Một trong những ví dụ sống động nhất là cuộc chiến tranh thương
mại những năm 1930, khi các nước cạnh tranh với nhau nhằm tăng thêm các hàng
rào mậu dịch để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước và để trả đũa rào cản của
các nước khác. Điều này càng làm cho cuộc đại suy thoái thêm tồi tệ và cuối
cùng góp phần làm bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ 2.

   Hai bước phát triển ngay Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã giúp
tránh được nguy cơ những căng thẳng thương mại thời kỳ trước chiến tranh xuất
hiện trở lại. Thứ nhất, ở châu Âu, hợp tác quốc tế phát triển trong các ngành
công nghiệp than, sắt và thép. Thứ hai, trên phạm vi toàn cầu, Hiệp định chung
về thương mại và thuế quan (GATT) đã hình thành.

   Cả 2 bước phát triển trên đều tỏ ra thành công, thành công
đến mức hiện nay chúng được mở rộng rất mạnh – một trở thành Liên minh châu Âu
và một trở thành Tổ chức Thương mại Thế giới.

      2. Giải quyết các mâu
thuẫn thương mại một cách xây dựng

   Do thương mại tăng lên về khối lượng, số lượng sản phẩm được
trao đổi, và số lượng các nước và công ty tham gia thương mại, nên có thêm
nhiều cơ hội để những tranh chấp thương mại nảy sinh. Hệ thống WTO giúp giải
quyết các tranh chấp này một cách hoà bình và mang tính xây dựng.

  Nếu để mặc chúng thì những tranh chấp này có thể dẫn đến những xung đột
nghiêm trọng. Một trong những nguyên tắc của WTO là các thành viên có nghĩa vụ
phải đưa những tranh chấp của mình tới WTO và không được đơn phương giải quyết.
Khi họ đưa ra các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết của WTO
là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc. Một khi nguyên tắc được thiết
lập, các nước phải chú trọng nỗ lực tuân thủ nguyên tắc, và có lẽ sau đó tái
thương lượng về các nguyên tắc – chứ không phải là tuyên chiến với nhau. Gần
200 tranh chấp đã được đưa ra giải quyết ở WTO kể từ khi tổ chức này thành lập.

   3. Một hệ thống dựa
trên những nguyên tắc chứ không phải là sức mạnh để làm cho cuộc sống dễ dàng
hơn với tất cả mọi người

   WTO không thể tuyên bố sẽ làm cho tất cả các nước đều bình
đẳng. Nhưng WTO thực sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp các nước nhỏ
hơn có nhiều tiếng nói hơn. Đồng thời cũng giải thoát cho các nước lớn khỏi sự
phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại với các đối tác của
mình.

   Các quyết định và hiệp định của WTO được thực hiện bằng nhất
trí ý kiến. Các hiệp định này áp dụng cho mọi người. Các nước giàu cũng như
nước nghèo đều có thể bị chất vấn nếu họ vi phạm một hiệp ước, và họ có quyền
chất vấn các nước khác trong quy trình giải quyết tranh chấp của WTO. Thiếu một
cơ chế đa phương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự do đơn
phương áp đặt ý muốn của mình cho các nước yếu hơn. Các nước lớn hơn cũng được
hưởng những lợi ích tương xứng. Các cường quốc kinh tế có thể sử dụng diễn đàn
duy nhất của WTO để thương lượng với tất cả hay với hầu hết các đối tác thương
mại của họ cùng một lúc.

      4. Thương mại tự do
hơn giúp giảm chi phí cuộc sống

   Hệ thống toàn cầu WTO đã giảm bớt các hàng rào mậu dịch
thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử. Kết quả là
chi phí sản xuất giảm, giá hàng hoá thành phẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là
chi phí cuộc sống thấp hơn.

      5. Đem đến cho người
tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn, và phạm vi chất lượng rộng hơn để lựa chọn

   Hiện nay chúng ta có thể có được tất cả các hàng hoá bởi
chúng ta có thể nhập khẩu chúng. Nhập khẩu cho phép chúng ta có nhiều lựa chọn
hơn – cả hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vi chất lượng. Thậm chí chất lượng của
hàng sản xuất nội địa có thể nâng lên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu.
Nhiều lựa chọn hơn không đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm
của nước ngoài. Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linh kiện và
thiết bị cho sản xuất trong nước.

   Điều này mở rộng phạm vi của các thành phẩm và dịch vụ do
các nhà sản xuất trong nước làm và nó làm tăng phạm vi những công nghệ mà họ có
thể sử dụng. Chẳng hạn, khi thiết bị điện thoại di động trở nên phổ biến, các
dịch vụ phát triển mạnh, thậm chí ngay tại nước không hề sản xuất thiết bị. Đôi
khi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thị trường trong
nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cạnh tranh, làm gia
tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có cho người tiêu dùng cũng như tăng phạm vi
hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước.

   6. Thương mại làm tăng
thu nhập

   Giảm bớt hàng rào thương mại cho phép thương mại tăng
trưởng, điều này làm tăng thu nhập – cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân.

   Thương mại cũng làm nảy sinh những thách thức khi các nhà
sản xuất trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Nhưng
thực tế rằng có nguồn thu nhập bổ sung có nghĩa là sẵn có nhiều nguồn lực để
các chính phủ tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợi nhiều nhất, chẳng
hạn để giúp các công ty và công nhân thích ứng bằng cách trở nên năng suất và

có khả năng cạnh tranh hơn trong lĩnh vực mà họ đã và đang làm, hoặc bằng cách
chuyển sang các hoạt động mới.

   7. Thương mại kích
thích tăng trưởng kinh tế và đó có thể là tin tốt lành cho vấn đề việc làm

   Trên thực tế đã có bằng chứng căn cứ trên sự việc cho thấy
rằng việc giảm các rào cản thương mại là điều kiện tốt cho công ăn việc làm.
Nhưng bức tranh này rất phức tạp do nhiều yếu tố. Tuy nhiên, bảo hộ cũng không
phải là cách để giải quyết các vấn đề việc làm.

   Có ít nhất hai luận điểm được chỉ ra về vấn đề này. Thứ
nhất, sẽ có những nhân tố khác xuất hiện. Chẳng hạn, tiến bộ công nghệ cũng có
tác động mạnh đến việc làm và năng suất lao động, làm lợi cho một số loại công
việc song lại làm tổn thương một số khác. Thứ hai, trong khi thương mại rõ ràng
là làm tăng thu nhập quốc dân (và sự thịnh vượng), điều này không phải luôn
đựơc hiểu là tạo ra công ăn việc làm mới cho những người bị mất việc do sự cạnh
tranh của hàng nhập khẩu.

      8. Các nguyên tắc cơ
bản làm cho hệ thống có hiệu quả hơn, và giảm bớt chi phí

   Thương mại cho phép thực hiện phân công lao động giữa các
nước. Nó cho phép sử dụng một cách phù hợp và hiệu quả các nguồn lực vào sản
xuất. Nhưng hệ thống thương mại WTO còn đem lại nhiều hơn như thế. Nó giúp làm
tăn hiệu quả và thậm chí còn giảm bớt chi phí nhiều hơn bởi những nguyên tắc
quan trọng được thiết lập trong hệ thống.

   Không phân biệt đối xử chỉ là một trong những nguyên tắc của
hệ thống thương mại WTO. Những nguyên tắc khác gồm có:

   * Minh bạch. Thông tin rõ rằng về các chính sách, nguyên tắc
và quy định.

   * Tin chắc vào các điều kiện thương mại. Những cam kết cắt
giảm các hàng rào thương mại và làm tăng khả năng tiếp cận các thị trường của
một số nước cho các nước khác có sự ràng buộc pháp lý.

   * Đơn giản hoá và chuẩn hoá các thủ tục hải quan, xoá bỏ
tình trạng quan liêu, tập trung hoá cơ sở dữ liệu thông tin và các biện pháp
khác được thiết lập nhằm đơn giản hoá thương mại theo phương châm “kích
thích thương mại”.

   Tất cả những nguyên tắc này làm cho thương mại đơn giản hơn,
giảm bớt phí tổn cho các công ty, tăng niềm tin vào tương lai. Đổi lại, điều đó
cũng có nghĩa là có nhiều việc làm hơn, người tiêu dùng có hàng hoá và dịch vụ
tốt hơn.

   9. Hệ thống này bảo vệ
các chính phủ khỏi những quyền lợi hẹp hòi

   Hệ thống GATT/WTO phát triển trong nửa cuối của thế kỷ XX
giúp cho các chính phủ có một nhãn quan cân bằng hơn về chính sách thương mại.
Các chính phủ vững vàng hơn trong việc tự bảo vệ mình tránh khỏi những vận động
ngoài hành lang của những nhóm có quyền lợi hẹp hòi bằng việc tập trung vào
những cân đối vì lợi ích của tất cả mọi người trong nền kinh tế.

   Một trong những bài học nổi bật của chủ nghĩa bảo hộ nổi bật
trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX là có thể gây ra thiệt hại nếu những quyền
lợi cục bọ hẹp hòi chiếm ưu thế về ảnh hưởng chính trị. Kết quả là một chính
sách ngày càng hạn chế mà đã dẫn đến một cuộc chiến tranh thương mại không có
ai thắng chỉ toàn kẻ bại. Các chính phủ phải được vũ trang để chống lại sức ép
của những nhóm quyền lợi hẹp hòi, và hệ thống thương mại WTO có thể giúp được
điều này.

      10. Hệ thống khuyến
khích chính phủ hoạt động tốt

   Theo các nguyên tắc của WTO, khi đã có cam kết tự do hoá một
khu vực thương mại nào đó, thì khó có thể đảo ngược được. Các nguyên tắc cũng
không khuyến khích những chính sách thiếu thận trọng. Đối với giới kinh doanh,
điều này có nghĩa là độ chắc chắn cao hơn và rõ ràng hơn về các điều kiện thương
mại. Đối với các chính phủ, điều này thường đồng nghĩa với kỷ luật tốt.

   Một loại rào cản thương mại mà các nguyên tắc của WTO cố gắng giải quyết là
hạn ngạch. Do hạn ngạch hạn chế cung nên đẩy giá cả tăng lên một cách giả tạo,
đồng thời tạo ra một số lợi nhuận lớn khác thường. Các nhà kinh tế gọi đó là
“thuế hạn ngạch”. Lợi nhuận này có thể được dùng để gây ảnh hưởng đối
với các chính sách, vì cũng có nhiều tiền hơn để thực hiện các cuộc vận động
ngoài hành lang. Nói cách khác, hạn ngạch là một biện pháp hạn chế thương mại
đặc biệt tồi tê. Thông qua các nguyên tắc của WTO các chính phủ đã nhất trí
rằng họ không khuyến khích sử dụng hạn ngạch.

  Nhiều
lĩnh vực khác của các hiệp định WTO cũng có thể giúp giảm bớt tệ tham nhũng và
chính phủ xấu xa. Sự minh bạch, các tiêu chí rõ ràng hơn về các quy định đối
với sự an toàn và chuẩn mực của sản phẩm, và sự không phân biệt đối xử cũng
giúp giảm bớt tình trạng gian dối và việc ra quyết định mang tính độc đoán.
                        

Odessa, 29/10/2008 

 (Còn nữa)

Trung Kiên (tổng hợp)

»Liên quan
Người Trung Hoa với WTO

Thứ Ba, 23 Tháng Mười Hai 2008

Ra khơi đón sóng đại dương WTO

Thứ Sáu, 12 Tháng Mười Hai 2008

Năm nguyên tắc cơ bản của WTO

Thứ Năm, 06 Tháng Mười Một 2008

WTO - lịch sử hình thành và phát triển

Chủ Nhật, 19 Tháng Mười 2008