Mặt thật CIA bởi Nguyễn Quang

Dưới triều đại của ông Bush, trong cơ quan CIA đã rất khuyến khích những nhân viên nào sẵn sàng bước qua ranh giới thiện ác một cách thản nhiên để thực hiện các chỉ thị của “thượng cấp” vì “quyền lợi của nước Mỹ” (!)

Ủy ban về tình báo của Thượng viện Mỹ đang chuẩn bị cho đợt kiểm tra các hoạt động của Cục Tình báo Trung ương (CIA) trong hai nhiệm kỳ của vị Tổng thống thứ 43 George Bush. Lý do được viện ra là vấn đề chính danh của những phương thức mà các nhân viên CIA đã sử dụng khi thẩm vấn các nghi can khủng bố. Đã có quá nhiều thông tin về các vi phạm loại này được tung lên các phương tiện thông tin đại chúng khiến các ông nghị Mỹ chẳng thể “tai ngơ mắt lấp”.

Nếu đầu những năm 2000, một độc giả hay một khán giả truyền hình bình thường ở phương Tây chắc khó có thể biết ý nghĩa của từ tiếng Anh “waterboarding” thì giờ, ít ai đặt ra câu hỏi ngây thơ về chuyện này.

“Waterboarding” – đó là biện pháp kỹ thuật quen thuộc được sử dụng trong các cơ quan bạo lực Mỹ khi tiến hành thẩm vấn để đạt được những lời khai cần thiết. Biện pháp này kết hợp với nhiều biện pháp khác đã chứng tỏ tính hiệu quả của nó.

Không có “phần tử khủng bố” nào sau khi bị nhúng nước nhiều lần tới run lẩy bẩy cả người lại không gật đầu trước những lời buộc cho những tội lỗi đã phạm phải hoặc không bao giờ phạm phải.

Để cho trong đội ngũ nhân viên CIA không nảy sinh những lo lắng sớm, từ “những nguồn tin giấu tên” ở Thượng viện Mỹ đã nhấn mạnh tới việc, cuộc kiểm tra này được tiến hành không phải để khởi tố các  nhân viên CIA mà để xác định tính hợp pháp trong các hành động của CIA và để sửa đổi các điều cần thiết trong hoạt động của CIA.

Tuy nhiên, mặc dầu thế, ngay trong hôm thứ hai sau khi nhậm chức chính thức, Tổng thống Barack Obama đã quyết định đóng cửa những nhà tù bí mật của CIA và cấm sử dụng các đòn tra tấn để lấy lời khai.

Đầu tháng 2/2009, ghế giám đốc CIA đã được dọn cho ông Leon Panetta (71 tuổi), người mà trước đó không hề có mối liên quan nào tới hoạt động của cơ quan tình báo này.

Trong tiểu sử chính thức của tân giám đốc CIA ghi đậm những giai đoạn sau trong cuộc đời của ông: trong những năm 1964-1966, phục vụ trong quân đội Mỹ; năm 1971 gia nhập đảng Dân chủ; trong những năm 1970-1971 trở thành trợ lý của thị trưởng New York. Năm 1976, ông Panetta lần đầu tiên được bầu vào Hạ viện và phải làm việc với những vấn đề ngân sách và quyền dân sự (ông được tái đắc cử tới năm 1993). Trong những năm 1994-1997, ông Panetta lãnh đạo văn phòng của Tổng thống Bill Clinton; từ năm 1997 cho tới đầu năm 2009, ông cùng vợ lãnh đạo Viện Chính sách Xã hội.

Theo đánh giá của báo chí Mỹ, ông Panetta là một nhà quản lý giàu kinh nghiệm, một người nhất quán theo chủ nghĩa tự do và một chính trị mềm mỏng. Do không can dự vào quá khứ của CIA, ông Panetta có thêm lợi thế trong việc tiến hành cải cách CIA theo hướng lành mạnh hóa hoạt động của tổ chức này trong tương lai…

Đối với các nhân viên CIA, việc ông Panetta trở thành giám đốc không hứa hẹn điều gì tốt đẹp: Rõ ràng là sẽ có một đợt thay máu cơ quan này, đụng chạm tới tất cả những ai đã viện cớ chống khủng bố để biến CIA thành “trại giam toàn cầu”.

Biện bạch về các hành động của mình, các nhân viên CIA đã đổ lỗi cho các sắc lệnh từ “thượng cấp”, đồng thời cũng thừa nhận rằng, đã có những lầm lỗi, những việc lạm quyền, đôi khi cả những sự xác định kẻ thù không chuẩn xác, nhưng chiến tranh là chiến tranh, ném chuột khó tránh khỏi sứt mẻ bình! Vậy có nên bắt tội vì việc này không?!

Trước khi bắt đầu cuộc chiến Iraq, “thượng cấp” đòi phải bằng mọi giá kiếm được những bằng chứng về mối liên hệ của ông Saddam Hussein với Al-Qaeda, cũng như về việc Baghdad đã sở hữu vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Những lời đáp trung thực của các nhà ngoại giao trung thực và các nhân viên tình báo trung thực “không phát hiện được mối liên hệ giữa Hussein với Al-Qaeda” hay “không phát hiện được vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq” đã làm Tổng thống George Bush và bộ sậu “diều hâu” của ông ta cực kỳ cáu kỉnh.

Khi đại sứ Mỹ Joseph Wilson lên tiếng khẳng định giả thuyết về việc các thuộc hạ của ông Hussein đã mua nguyên liệu hạt nhân ở Nigeria là dối trá, ông này đã bị một đòn chí tử từ Nhà Trắng. Những nhân vật thân cận của ông Bush (được sự đồng tình của vị Tổng thống thứ 43 này) đã bày trò rò rỉ thông tin về việc vợ của đại sứ Wilson là nhân viên CIA chuyên theo dõi về vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Tín hiệu này đã được CIA nhận thức rất rõ ràng: Phải bằng mọi giá để thực hiện chỉ thị từ Nhà Trắng. Nếu “thượng cấp” bảo ở Iraq có vũ khí huỷ diệt hàng loạt tức là chắc chắn ở đấy có.

Hình ảnh của CIA cũng đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi cái gọi là những chiến dịch ngăn chặn khủng bố trên lãnh thổ những quốc gia thân hữu với Mỹ. Thí dụ như vụ bắt cóc một trong những thủ lĩnh Hồi giáo ở Italia. Hay vô số những chuyến bay của các phi cơ CIA trên bầu trời châu Âu với những “nghi can khủng bố” bị bắt và được đưa tới nhiều nhà tù bí mật của CIA để thẩm vấn. CIA đã truyền bá những công nghệ tra tấn thẩm vấn mới nhất của mình cho các cơ quan an ninh ở nhiều nước Đông Âu.

Có lẽ lời biện bạch “chúng tôi bắt buộc phải làm thế” của các nhân viên CIA sẽ khó được phái đoàn kiểm tra chấp nhận. Cuộc chiến với nhiều đòn cấm kéo dài chống lại chủ nghĩa khủng bố (cả hiện thực lẫn giả tưởng) đã và đang làm mất mặt nước Mỹ trên trường quốc tế đến mức không thể không có những biện pháp “rửa mặt”. Đối tượng điển hình nhất để làm điểm không thể là gì hơn ngoài CIA!

Bằng chứng về việc bản thân CIA hiểu rất rõ “thế nào là tốt, thế nào là xấu” là việc tiêu hủy 92 cuộn băng video ghi lại các cảnh tra tấn thẩm vấn các nghi can khủng bố. Những hình ảnh trong các cuốn băng đó hoàn toàn có thể là bằng cớ để đưa tất cả những nhân viên CIA nào tham gia hoặc cho phép tiến hành các cuộc thẩm vấn đó ra toà. Việc tiêu hủy những băng video trên được tiến hành vì “không còn lý do công vụ hay nhu cầu phải bảo quản chúng nữa”.

Các tài liệu liên quan tới các chiến dịch “vô hiệu hóa” những chính trị gia không có lợi cho Washington ở châu Mỹ La tinh như Tổng thống Venezuela Hugo Chavez hay Tổng thống Bolivia, Evo Morales… cũng đã được thanh lọc kỹ lưỡng. Các tài liệu liên quan tới hoạt động của CIA ở Columbia cũng đã được tiêu hủy nhiều phần…

Tình hình căng thẳng nội bộ hiện nay tác động rất mạnh tới hoạt động của các nhân viên CIA, đặc biệt là những ai đang thực thi công vụ ở những điểm nóng. Cuộc sống trong những điều kiện bất thường, đầy rẫy những mối nguy hiểm chết người hoặc nguy cơ bị lọt vào tay những phần tử khủng bố đang nóng máu trả thù vì những trò mà CIA gây nên ở trại giam Guantanamo và các trung tâm thẩm vấn tra tấn khác, không thể giúp các nhân viên CIA làm việc có chất lượng.

Không phải tất cả họ đều chịu được cường độ nguy hiểm cao như thế và những vụ tự sát trong đội ngũ nhân viên CIA không phải là chuyện hiếm, cũng như trong các đội quân viễn chinh ở Iraq và Afghanistan. Biện pháp công tác ngắn này đã được áp dụng cũng không giúp đỡ giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

Để giải tỏa tâm lý trước sức ép công việc và một thực tại đầy thù địch, không ít nhân viên CIA đã tìm tới rượu và các chất gây nghiện khác. Các điệp viên vì thế ngày càng vi phạm quy chế công tác nhiều hơn.

Một trong những vụ việc xảy ra gần đây nhất là ở Algeria: Trưởng văn phòng CIA ở đây đã dùng thuốc kích dục để lừa mị các mỹ nhân sở tại. Khi chuyện bại lộ, ông này đã bị đình chỉ công tác. Tuy nhiên, ông ta vẫn không nản chí mà còn ngồi viết sách best-seller về những cuộc phiêu lưu tình ái của mình với các nữ tín đồ Hồi giáo (!)

Dưới triều đại của ông Bush, trong cơ quan CIA đã rất khuyến khích những nhân viên nào sẵn sàng bước qua ranh giới thiện ác một cách thản nhiên để thực hiện các chỉ thị của “thượng cấp” vì “quyền lợi của nước Mỹ” (!) Đến mức lãnh đạo CIA hồi đó là George Tenet đã công khai phát biểu: “Chúng ta không quan tâm tới quá khứ khả nghi của những nhân sự bổ sung mới. Quan trọng nhất là họ có được những kỹ năng cần thiết cho chúng ta. Những người trong sạch không thể làm được những việc dơ bẩn”.

Những nhân vật như thế từng được chú trọng đưa vào những vị trí then chốt trong CIA bởi những nhà tân bảo thủ đầy quyền lực thuộc bộ máy của ông Bush mà đại diện điển hình là cựu giám đốc An ninh Quốc gia John Negroponte, con người của những quyết định chóng vánh, cực đoan, bất nhẫn.

Khi còn là đại sứ Mỹ tại Honduras, ông này từng tích cực khuyến khích hoạt động của các “đạo quân thần chết” ở khu vực Trung Mỹ. Negroponte phải chịu trách nhiệm về hàng nhìn nạn nhân vô tội ở Honduras, Goatemala, Nicaragua, El Salvador… Negroponte cũng đã đòi hỏi các thuộc cấp của mình trong hệ thống An ninh Quốc gia Mỹ một tinh thần sát thủ như thế: “Kẻ thù tốt nhất là kẻ thù đã chết”.

Trên nền móng này trong nội bộ CIA đã nảy sinh nhiều xung đột công vụ, khi có những nhân viên từ chối thực hiện những mệnh lệnh tàn ác. Những người này đã bị cấp trên thù ghét và bạc đãi. Một số người trong bọn họ để bảo vệ quyền con người của mình đã phải nhờ tới các luật sư…

Một số nhà xuất bản ở Mỹ đã ký hợp đồng với những  nhân viên CIA đồng ý kể sự thật về hoạt động của cơ quan này dưới thời ông Bush. Khi đã bị mất đi những điểm tựa tinh thần và thất vọng với gương mặt thật của CIA, họ sẵn sàng nói ra nhiều điều tối mật như một sự xưng tội để nhẹ lòng đi.

Ánh Hồng
theo CAND