Lịch sử ngày lễ Vu-Lan Bồn bởi Công Bằng

Nam Mô Đại-Mục Kiền-Liên Bồ-Tát.
Bài nói chuyện của Cư sỹ Quảng-Tịnh
Mùa Vu-Lan 2013 tại Hải phòng.

Đã được Làng Phổ-Đà Liên-Hoa Tịnh-Độ thành phố Hải phòng in lần thứ hai 2015 cúng dường.


Các bạn đồng tu thân mến!

Sắp đến ngày Lễ Vu-Lan, tôi cũng như các quý vị đều lòng luôn hướng về ông bà, cha mẹ của mình với lòng thành kính, bùi ngùi thương nhớ, mong sao lo sắm lễ, tổ chức đại-lễ để các bậc ông bà cha mẹ, cửu huyền thất tổ đều được hưởng ơn ân sâu của các chư vị Phật, chư Đại Bồ-Tát, chư Hiền Thánh-Tăng mà được độ thoát nơi cảnh khổ của địa-ngục hay đọa vào Ngã-quỷ, Súc-sinh.

Hễ ai đã làm bậc cha mẹ thì hẳn biết công lao sinh thành, nuôi nấng vất vả ra sao để con cháu có ngày hôm nay. Miếng cơm ngon cha mẹ nhường nhịn cho con, năm canh chẳng bao giờ được ngủ yên, phải luôn thức giấc trông con, chăm cháu.

“Chỗ khô con nằm, chỗ ướt mẹ chịu”.

Lại nữa, lúc con khỏe mạnh thì vất vả là vậy, nhưng lúc ốm đau, trái gió, trở giời thì còn khổ hơn gấp trăm lần. Con mỗi khi cảm cúm, mũi ngạt, khó thở, cha mẹ truyền tay nhau bế vác, du dỗ thắt cả ruột gan.

Lại nữa, cuộc đời đâu có dễ dàng, miếng cơm manh áo, cho đến cuốn vở, sách đèn, ngôi nhà, nghề nghiệp, dựng vợ gả chồng v.v… tất cả những đòi hỏi để cho con, cháu có được đó là cả một đời còng lưng vất vả, mồ hôi nước mắt lam lũ mới tạo dựng nên cho con, cháu hôm nay. Nhiều khi vì quá thương con, lại gặp cảnh đời khó khăn nên biết là làm việc không phải, tạo tội mà nhiều bậc cha mẹ vẫn phải nhắm mắt mà làm. Bởi thế có câu:

Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Vất vả gần cả cuộc đời là vậy, khi tóc đã bạc, lưng đã còng mà đâu đã được nghỉ ngơi. Khi con lớn khôn, có vợ, có chồng, thương con giờ ông bà lại phải trông nom con cháu.

Người ta có câu: “Một người già bằng ba kẻ ở !”

Đúng là như vậy, về già rồi còn vất vả hơn khi lúc thanh xuân, tất cả mọi việc trong nhà con cái đi làm ông bà phải gánh vác. Thật công đức ấy nếu có hình tướng thì chất đến trời cao. Nên Phật nói: “ Ông bà, bố mẹ là Phật trong nhà”.

Ông Bà, Bố mẹ của chúng ta là thế, vậy bạn có bao giờ hỏi giờ ở nơi đâu? Cách biệt phương nào ta đâu có biết? Ngậm ngùi thương nhớ biết phải làm sao? Những người con cháu có hiếu luôn luôn nghĩ phải làm gì để gọi chút báo đền cho khỏi tủi hận?

Bởi vậy, khi trời đất bắt đầu chuyển mình, ngày vào se lạnh, cũng là lúc mùa Vu-lan đến, chúng ta lại nhớ về ông bà cha mẹ của mình những mong đến ngày đây tu tập bên nhau, sắm lễ dâng hương làm đại lễ Vu-Lan cầu Trời Phật độ cho cha mẹ ông bà được mau giải thoát.

Ảnh  những người con hiếu thảo thương nhớ về ông bà cha mẹ của mình.

Ảnh những người con hiếu thảo thương nhớ về ông bà cha mẹ của mình.

Nhưng thật buồn thay! Không phải ai cũng biết ý nghĩa ngày lễ này ra sao? Có từ bao giờ? Và phải làm gì?

Vì vậy tôi hôm nay muốn chia sẻ với tất cả các người hiếu tử nói về ý nghĩa của đại lễ Vu-Lan.

Các bạn đồng tu thân mến!

Chúng ta ngày rằm tháng bẩy, ngày Lễ Vu-lan do nhiều người chưa được học về Kinh-điển giáo lý của Phật nên người Bắc vẫn quen gọi là ngày “Xá-Tội Vong-Nhân” cúng các chúng-sinh không nhà không cửa. Còn ở miền Nam, rằm tháng 7 thường gọi là “Vu-Lan Thắng Hội”, ngày để con cái báo hiếu cha mẹ. Nhiều nội dung đúng mà nhiều khi cũng chẳng như Kinh Phật dạy mà từ ảnh hưởng của Trung quốc đem vào, cộng với tự nghĩ của mình mà làm nên đúng ít sai nhiều, lợi ích bị hạn chế rất nhiều. Chúng ta phải nghiêm cứu thật kỹ càng lại để chỉnh sửa cho đúng.

Sự tích của ngày cúng rằm tháng 7 cũng bắt nguồn từ khi Phật thấy lòng hiếu thảo hết mực của Ngài Mục-Kiền-Liên với cha mẹ của mình với lòng từ bi rộng lớn mà Ngài đã đưa ra những sắc quyết quan trọng cho ngày lễ này ra đời.

Chúng ta đi tìm hiểu vào Kinh điển Phật thì thấy rõ ý nghĩa của ngày lễ Vu-Lan này. Tôi xin trân trọng chuyển đến quý bạn đồng tu nội dung quan trọng này.

Thưa các bạn đồng tu! Ngài Mục-Kiền-Liên một vị A-La-Hán, đệ-tử lớn của Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Mục-Kiền-Liên không phải tên thật mà chỉ là hiệu, còn Tên Ngài là La-Bộc.

Chuyện xưa kể rằng…La-Bộc là con ông Phổ-Tướng và bà Thanh-Đề là người con hết mực hiếu thảo. Ngay từ nhỏ luôn biết chăm lo phụng dưỡng cha mẹ hết lòng. Vì gia đình túng thiếu, La-Bộc phải đi buôn bán ở tỉnh Kiên-Liên. Khi đã giầu có, La-Bộc nhớ tới mẹ già liền cho người về quê biếu tiền mẹ. Bà mẹ ăn xài hết nhẵn số tiền đó rồi, lại sai người giết chó làm nhân bánh biếu sư. Đến lúc La-Bộc về thì bà mẹ lại chối và nói rằng bao nhiêu tiền con gửi về cho đã đem cúng cả vào đền chùa Miếu-vũ rồi.

Chẳng bao lâu bà mẹ chết. Chịu tang mẹ 3 năm, La-Bộc đi qua nước Ki-đô là nơi Phật ở, La-Bộc xin được quy-y và ở lại đây tu luyện.

Đức Phật thấy La-Bộc có chí nên đã chấp thuận lời thỉnh cầu đó và sai thầy Kha-Na cắt tóc cho ông và đặt tên là Đại-Mục Kiền-Liên( gọi tắt là Mục-Liên) và cho vào tu ở chùa Lã-Bí trong rừng Quýt-Sơn. Sau một thời gian tu hành rất tinh tấn, được Phật và các chư Đại Bồ-Tát hết lòng tận tình dìu dắt, Mục-Kiền-Liên đã vượt mọi người thường và chứng quá vị A-La-Hán, có sáu phép thần-thông, nhờ đó có thể nhìn thấy rõ chúng sinh trong ba cõi từ nơi sâu tối nhất là Đại-ngục A-tỳ, cho đến cõi trời cao nhất là Trời Hữu-đỉnh.

Hôm ấy, nhân có dịp đi qua rừng Quýt-Sơn, Ngài Kiền-Liên phải đi qua ngôi chùa Thiên-Giai, đây là nơi có những âm-hồn thường kéo về đây để được nghe thầy trụ-trì là một vị Bồ-Tát giảng Kinh, thuyết pháp.

Mục-Kiền-Liên nhìn đoàn người ấy thì nhận ra trong đó có người cha của mình là ông Phổ-Tướng nhưng tìm mãi thì không thấy bà Thanh-Đề đâu. Ngài vận hết sức Thần-thông soi khắp nhân-gian, trên trời chẳng thấy, khi nhìn xuống các tầng địa-ngục thì thấy mẹ mình bị giam cầm, ở địa-ngục A-tỳ, nơi đó đen tối, ánh sáng của mặt trăng và mặt trời không bao giờ chiếu tới. Chân tay bà bị gông cùm, thân thể rất tiều tụy do bị cực hình tra tấn ngày đêm không ngừng nghỉ.

Nhìn thấy cảnh đó, Mục-Kiền-Liên ôm lấy mẹ mà khóc. Mà mẹ thấy con vừa mừng, vừa tủi, nước mắt hai hàng. Bà nhờ con tìm cách cứu mình thoát khỏi địa-ngục này.

Mục-Liên thấy mẹ bị như vậy liền lấy bình bát, đem cơm của mình dâng mẹ. Mẹ Ngài được cơm nhưng chưa vào miệng cơm đã hoá ra than lửa đỏ hồng. Ngài đau đớn quay về nơi Phật, xà vào lòng Phật mà khóc nức nở, Ngài kể lại chuyện mẹ mình nơi địa-ngục ra sao và mong Phật cứu giúp mẹ mình.

Ảnh ngài Mục-Kiền-Liên dâng cơm cho mẹ

Ảnh ngài Mục-Kiền-Liên dâng cơm cho mẹ

Đức Phật thương xót mà nói: “ Mẹ con tạo nghiệp ác sâu dầy nên bị đọa vào Đại-ngục A-tỳ, nơi khổ nhất trong các địa-ngục. Do bà bị đói ăn lâu ngày nên khi được con dâng cơm, sợ các cô-hồn đến tranh cướp nên đã dùng một tay che bát cơm, mắt bốc lửa nên khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành than. Dù con có sức thần-thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ mình đâu. Giờ chỉ có một cách vào ngày rằm tháng bảy 7 tới đây là ngày tự-tứ của mười phương Tăng, tất thảy các vị đều rất từ-bi, ứng thọ nên ai cúng-dường Thánh Tăng thì tất cả đều vượt ác-đạo, ứng niệm giải thoát. Con hãy lo sắm quần áo, cơm canh ngon, trai tịnh, và những mâm ngũ quả cùng hoa tươi, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Với lòng chí thành dâng lễ vật lên cúng-dường, khẩn cầu nhờ hợp lực của chư các vị Bồ-Tát, các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các vị Pháp-sư cư-sỹ những người có lòng từ-bi, lại giữ gìn giới luật, đức độ ở khắp mười phương một lòng cầu các chư vị Phật, chư đại Bồ-Tát, hồi hướng công đức ấy cho mẹ của con và cả cha mẹ bẩy đời trước đây thì mới mong được giải thoát.”

Tôn-giả Mục-Kiền-Liên về làm đúng lời Phật dạy, quả nhiên mẹ Ngài được giải thoát. Mục-Kiền-Liên đã đưa mẹ bay lên trời cầu xin Đức Phật xoá tội cho bảy đời cha mẹ trước đây của mình. Tất cả các bậc cha mẹ đó nhân đây cũng được giải thoát. Mục-Kiền-Liên lại bất giác nghĩ thương đến tất cả những bậc cha mẹ của bao người khác cũng giống cha mẹ của mình một sương hai nắng, tần tảo nuôi con, nhiều khi tạo tội cũng chỉ vì miếng cơm manh áo của con. Vì thế, Ngài quỳ gối chắp tay, cúi xin Phật mở lòng hải-hà, cho các người con hiếu thảo với ông bà cha mẹ hay người thân yêu của mình cũng được có cơ hội mỗi năm dâng cúng vật lễ chay tịnh lên các chư Tăng để mong nhờ công-đức và lòng từ-bi của các chư vị mà được giải thoát.

Đức Phật khen lành thay! Ngài đã ban bố và thi phép để hàng năm mở cửa Trời ngày Rằm tháng bẩy từ 12 giờ đêm hôm 14 đến 12 giờ đêm hôm 15, các vong-linh được về gia đình mình để dự cùng con cái làm lễ Vu-Lan. Ngài cũng xác quyết, khuyến thỉnh các vị chư Bồ-Tát, Thănh-Văn, Duyên-Giác, Tăng-Ni vào ngày tự-tứ rằm tháng bẩy, hoan hỉ nhận lễ cúng-dường của mọi người con hiếu thảo dâng tiến, rồi làm đại lễ Vu-Lan cầu chư Phật, chư đại Bồ-Tát, chư Hiền Thánh Tăng để độ cho ông bà, cha mẹ, người thân của các gia-chủ thoát khỏi ba đường khổ nơi Đại-ngục, Ngã-quỷ, Sức-sinh, lại được trở lại làm người, có cơ hội để mà tu hành cầu được giải thoát sinh-tử luân-hồi mau thành Bồ-Tát, thành Phật.
Từ đó trở đi, cứ sau mùa kiết-hạ là các chư Tăng, Ni, các Pháp-sư Cư-sỹ cùng các Phật-tử đều tổ chức ngày Lễ Vu-Lan để các người con hiếu thảo bốn phương về dâng lễ vật cầu cho ông bà cha mẹ mình được giải thoát.

Ảnh 108 ngọn nến lung linh được Pháp-sư cư-sỹ Quảng Tịnh và các Phật-tử thắp lên            đêm  Lễ Vu-lan 2011 tại chùa Lũng-tiên Quận Kiến-an thành phố Hải phòng Việt nam.

Ảnh 108 ngọn nến lung linh được Pháp-sư cư-sỹ Quảng Tịnh và các Phật-tử thắp lên
đêm Lễ Vu-lan 2011 tại chùa Lũng-tiên Quận Kiến-an thành phố Hải phòng Việt nam.

Dựa vào tích ấy, vào ngày rằm tháng 7, các chùa đều làm lễ chay chạy đàn, phá ngục cho các tội nhân. Nhà nhà cũng theo đó thành kính, làm lễ vì tin rằng ngày đó dưới âm phủ nhiều vong nhân sẽ đuợc xá tội.
Noi gương hiếu thuận của Mục-Kiền-Liên, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày tết Vu-Lan, con cái báo ân cha mẹ. Ngày lễ ấy có giá trị đạo đức rất cao. Người ta có câu: “ Giọt ranh trước rơi thế nào, giọt sau rơi thế đấy”.

Việc các quý vị báo hiếu cha mẹ mình hôm nay ra sao, sẽ có tác dụng giáo dục, bồi đắp lòng hiếu thảo của con cháu quý vị với ông bà, cha mẹ sau này, gieo nhân Bồ-Đề cho mãi mãi mai sau. Bởi thế, các quý vị đang làm một công việc đầy ý nghĩa cao cả nhất, thiết thực nhất cho Ông bà cha mẹ, người thân và cho cả chính mình.

Sự khác nhau giữ lễ Vu-Lan báo hiếu và Ngày cúng cô hồn, xóa tội vong nhân?

Các bạn đồng tu thân mến!

Ngày Rằm tháng bẩy theo đạo Phật thì là ngày Lễ Vu-Lan Bồn, còn theo nhân gian vì ảnh hưởng của Nho giáo và Lễ giáo Trung hoa nên gọi ngày này là “ Ngày xóa tội Vong Nhân” hay “ Ngày cúng Cô-Hồn”. Nhiều người không học Kinh điển Phật nghĩ là giống nhau nhưng thực ra Ngày Lễ Vu-Lan và Lễ Cô-Hồn hoàn toàn khác nhau là hai lễ nhưng trùng vào cùng một ngày.
Sự tích Lễ cúng Cô-hồn đại khái như sau:

Theo “Phật Thuyết Cứu-Bạt Diệm-Khẩu Ngạ-Quỷ Ðà-La-Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô-hồn có liên quan đến câu chuyện giữa Ngài A-Nan-Ðà, thường gọi tắt là A-Nan, người em con chú của Phật và cũng như ngài Mục-Kiên-Liên, các vị đều là đệ-tử lớn của Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Câu chuyện với một con quỷ miệng lửa (Diệm-khẩu) hay cũng gọi là quỷ mặt cháy (Diệm-nhiên).
Có một buổi tối, Ngài A-Nan đang ngồi trong tịnh-thất thì thấy một con ngạ-quỷ, thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A-Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi Ngạ-quỷ miệng lửa mặt cháy như nó.

A-Nan sợ quá, bèn nhờ Quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói:

– Ngày mai ông phải thí cho bọn Ngạ-quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng-dường Tam-Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sinh về cõi trên” A-Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn cho Ngài bài chú gọi là “Cứu-Bạt Diệm-Khẩu Ngạ-Quỷ Ðà-La-Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước.

Từ đó, người Trung-Hoa đã làm lễ cúng cô-hồn, gọi lễ cúng này là Phóng-diệm-khẩu, tức là cúng để bố-thí và cầu nguyện cho loài quỷ-đói miệng lửa (Ngạ-quỷ), đó là những vong-hồn vật vờ không nơi nương tựa, sống vạ vật nơi gốc cây, bờ bụi rậm hay hang hốc v.v…vì không có ai là người thân trên trần-gian để nương tựa, cúng bái.

Quỷ-đói trong Kinh-điển Phật gọi đó là loài Ngạ-quỷ, loài này đầu to, mặt mày dữ tợn đầu tóc bù xù nhưng cổ bằng cái xe điếu trong khi cái bụng thì lớn, chân tay thì gầy còm.
Vì sao? Vì hễ ăn gì kiếm được vào cổ họng nuốt chẳng thể trôi xuống cái dạ dầy, vì cổ quá bé, nên lúc nào cũng thấy đói khát.

Những người khi sống ở nhân-gian tính tình keo-kiệt, hay xâm phạm tài sản của thường-trụ như lấn chiếm đất chùa, lấy các đồ vật cho đến hoa trái trong chùa mà không được sư trụ-trì cho phép.

Lại nữa nhiều người khi sống cậy có nhiều tiền ăn chơi vung phí, cờ bạc, trai gái, rượu bia, thuốc sái, các đồ ăn thức uống thường thừa thãi nhưng đem đổ đi, trong khi người nghèo cũng như muông thú đói khát thì chẳng có ăn.

Lại nữa, có những người sống không tin nhân quả, cho rằng chết là hết nên mặc tình làm ác mà không biết sợ, những người như thế khi lâm-chung đều bị đọa làm loại Ngạ-quỷ.

Như trong Kinh Vu-Lan thì mẹ của ngài Mục-Kiền-Liên là bà Thanh-Đề vốn xưa làm nghề bán thịt, phạn tội sát sinh, lại không tin nhân-quả, đem thịt chó làm nhân bánh lừa cúng-dường Tăng, Ni mà bị đọa vào Địa-ngục A-tỳ làm thân quỷ đói ( như đã nói ở trên) .

Ngoài đối tượng trên đã nói còn có loại hàng cô-hồn khác, đó là những khi sống không mắc tội lớn nên không bị giam cầm trong các địa-ngục nhưng cũng lại không có đủ phúc để được siêu thoát đầu thai trở lại làm người hay được sinh lên cõi Trời.

Như chúng ta đã biết muốn đầu thai trở lại làm người thì khi sống, người ta phải thực hành đủ năm giới là:

1, Không sát sinh; 2 Không ăn cắp; 3, Không tà-dâm; 4, Không uống rượu; 5, Không nói dối.

Đây là tiêu chuẩn căn bản để khi lâm-chung được đầu thai trở lại làm người. Trong Kinh gọi đó là Hiền-nhân.

Còn những ai ngoài giữ năm giới trên đây lại thực hành thêm 5 giới nữa gọi là Thập giới, đó là:

Ba giới cho khẩu ( tức là lời nói): 6, Không vọng ngữ ( nói lời thêu dệt); 7, Không lưỡng thiệt ( không nói lời hai chiều); 8, Không ác khẩu ( không nói lời độc ác).

Hai giới có ý: 9, Không giận hờn; 10, Không si mê .

Nếu thực hiện được như thế thì gọi là Thánh-nhân, người này khi lâm-chung được sinh lên cõi Trời làm Tiên, Thánh.

Số người sống ở nhân-gian là Hiền-nhân và Thánh-nhân quá ít, phần nhiều khi lâm-chung thường bị đọa vào ba đường khổ là Đại-ngục, Ngạ-quỷ và Súc sinh.

Vì sao nói vậy? Vì người giữ giới quá ít, quá ít. Người nghiên cứu học hành Kinh-điển của Phật, làm công đức lành lại càng ít hơn. Giầu khó tu mà nghèo lại càng khó tu hơn, người không có công danh địa vị khó tu mà người làm quan, có chức sắc cũng lại càng khó tu hơn nữa”.

Như thế có hai đối tượng của ngày cúng cô-hồn là:

1, Những người đọa làm loài Ngạ-quỷ từ địa-ngục nhân ngày rằm tháng bẩy nhờ cửa địa-ngục mở mà ra.

2, Những khi sống không mắc tội lớn nên không bị giam cầm trong các địa-ngục nhưng cũng lại không có đủ phúc để được siêu thoát đầu thai trở lại làm người hay được sinh lên cõi Trời.

Tóm lại: Ý nghĩa chính của Lễ Cúng cô-hồn đó là ở chỗ: những người khi sống có con cái, người thân yêu có hiếu thảo nên ngày Vu-Lan săn sóc, chăm lo tụng Kinh, làm lễ Vu-lan cầu thỉnh chư Tăng, Ni lễ Phật cho mình để được giải thoát, trong khi đó, những người vốn không có thân nhân, chẳng có con cái thì sao đây? Ai sẽ là người lo cho họ?

»Cùng chủ đề
Sau Hy Lạp sẽ là Ukraina?

23 Tháng Bảy 2015