Giáo sư sử học Waden Bello của trường đại học Phillipin nhận xét “người dân ở Đông Á bắt đầu cảm nhận họ không những trải qua thời kỳ kinh tế suy giảm mà còn đang sống trong thời kỳ chấm dứt “kỷ nguyên vàng” về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ”.

Hơn 40 năm qua, việc công nghiệp hoá theo hướng thiên về phục vụ xuất khẩu ( EOI) là mặt mạnh của kinh tế khu vực. Đài Loan và Hàn Quốc là hai nền kinh tế đầu tiên áp dụng chiến lược phát triển này vào giữa thập niên 1960. Nhà độc tài Pak Chung-hee đã khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc hướng tới xuất khẩu thông qua một số biện pháp, trong đó có cắt nguồn điện cấp cho nhà máy của họ nếu không tuân thủ chỉ thị đó. Sự thành công của kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan đã khiến Ngân Hàng thế giới (WB) tin rằng EOI là làn sóng phát triển trong tương lai.

EOI trở thành một trong những điểm đồng thuận quan trọng giữa WB và chính phủ các nước Đông Nam Á. Nhà băng thế giới đã thông qua đề án thành lậpc ác khu chế xuất – nơi nguồn vốn nước ngoài được sử dụng kết hợp với lực lượng nhân công giá rẻ. WB cũng ủng hộ việc dành sự ưu đãi , khuyến khích về thuế cho các nhà xuất khẩu và thúc đẩu thương mại tự do.

Dòng vốn của Nhật Bản đã giúp các nước Đông Nam Á đang trong tiến trình công nghiệp hoá tránh được những tác động của vấn đề tín dụng trong đầu thập niên 1980. Tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng nguồn vốn đầu tư đã tăng một cách ngoạn mục trong những năm cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 ở Inđonexia, Malaixia và Thái Lan . Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với sự tăng trưởng kinh tế được thể hiện rõ nhất ở Thái Lan, nước đã nhận 24 tỷ USD đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong thời gian 1987-1991.

Nếu Đài Loan và Hàn Quốc đi đầu trong thực hiện mô hình kể trên và khu vực Đông Nam Á nối tiếp thành công , thì Trung Quốc triển khai hoàn hảo chiến lược công nghiệp hoá theo hướng phục vụ xuất khẩu. Với nguồn nhân công giá rẻ mà không nước nào trên thế giới có thể bì kịp, Trung quốc đã trở thành ” công xưởng” của thế giới, thu hút 50 tỷ USD FDI mỗi năm trong nửa đầu thập niên 2000. Để tồn tại, các công ty hoạt động xuyên biên giới không còn lựa chọn nào khác là phải chuyển các cơ sở cần nhiều nhân công sang Trung Quốc để tận dụng chi phí giá rẻ, gây ra một cuộc khủng hoảng về lực lượng lao động tại các nước tư bản phát triển.

Quá trình trên diễn ra gắn với thị trường Mỹ và chừng nào người tiêu dùng Mỹ còn tiêu sài phung phí thì các nền kinh tế dựa vào xuất khẩu ở Đông Á tiếp tục phát triển.

Tỷ lệ tiết kiệm thấp ở Mỹ không hề là rào cản vì tín dụng luôn có sẵn . Trung Quốc và các nước châu Á đã mua nhiều trái phiếu chính phủ của Mỹ và cho các công ty tài chính vay mượn rất nhiều. Những công ty tài chính đólại cho người tiêu dùng và mua nhà ở Mỹ vay lại. Giờ đây, khi kinh tế Mỹ suy sụp, thị trường nước này không còn là nguồn tiêu thụ năng động như trứơc nữa trong một thời gian dài. Kết quả là các nền kinh tế châu Á bị tổn thương.

Các mối quan hệ kinh tế giũa Mỹ và Đông Á hiện giống như một chuỗi dây chuyền liên kết. Sự chấm d ứt đột ngột của kỷ nguyên xuất khẩu sẽ gây ra hậu quả xấu. Kinh tế tăng trưởng nhanh trong ba thập niên qua đã làm giảm số người nghèo đói ở tại các quốc gia châu Á, nhưng khoảng cách về thu nhập và giàu nghèo lại càng tăng.

Trần Mai Tùng
theo Bangkok Post