Đã qua rồi cái thời người ta vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay ít tác động đến các nền kinh tế Đông Á nói chung và ASEAN nói riêng nhờ khu vực này đã tích lũy được kinh nghiệm sau khủng hoảng tài chính khu vực cách nay vừa tròn 1 giáp. Thậm chí tạp chí Far Eastern Economic Review còn gọi các nước ASEAN là “những tiểu hổ bị trúng thương”.

Khủng hoảng từ ảo sang thực

Bão suy thoái đã tràn sang Đông Nam Á, Singapore và Indonesia là những nước hứng chịu đầu tiên. Khác với năm 1997, các nền kinh tế ASEAN ở trong tình trạng tốt hơn nhờ dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương còn đủ mạnh. Nguy cơ lớn nhất với các nước Đông Nam Á vẫn là lạm phát, nội tệ mất giá. Song, cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay khiến giá hàng hóa giảm nhiều, trong đó có xăng dầu, lương thực… đã khiến các yếu tố kéo lạm phát giảm nhiều. Một điểm thuận lợi nữa của Đông Nam Á là các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, EU đã nhắm vào khu vực và lên chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới.

Đòn giáng mạnh nhất vào các nước ASEAN chính là việc các thị trường xuất khẩu bị thu hẹp nhanh chóng. Đa số các nền kinh tế trong ASEAN thuộc nhóm 50 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới: Singapore (xuất khẩu bằng 200% GDP), Malaysia (xuất khẩu bằng 100% GDP), Thái Lan, Việt Nam (xuất khẩu trên 60% GDP)… Xuất khẩu giảm sút, thị trường tín dụng khủng hoảng do bị các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn, các nền kinh tế Đông Nam Á đã bị tác động mạnh mẽ.

Với tình trạng kinh tế khó khăn tại 3 thị trường nhập khẩu chủ chốt là châu Âu, Mỹ và Nhật Bản từ khi khủng hoảng tài chính bùng phát, xuất khẩu của Thái Lan, Singapore và của các nước Đông Nam Á khác đều bị tuột dốc. Người ta có lúc đã hy vọng vào thị trường lớn Trung Quốc có thể là phao cứu sinh cho các nước ASEAN nhưng gói kích thích tăng trưởng mà Trung Quốc công bố chủ yếu là dành cho kinh tế nội địa, và một nguồn ngoại tệ lớn của nước này còn phải dùng để mua lại tín phiếu của Mỹ, hỗ trợ Hong Kong, Đài Loan, Nga… Do thị trường xuất khẩu của Trung Quốc bị thu hẹp, các nước ASEAN lại trở thành thị trường tiêu thụ hàng giá rẻ của Trung Quốc. Bên cạnh đó, những biến động trên thị trường tài chính toàn cầu đã làm giảm mạnh nguồn đầu tư mạo hiểm vào các thị trường đang nổi lên, kết quả là dòng vốn đầu tư gián tiếp ra nước ngoài giảm mạnh.

Phát biểu tại diễn đàn với chủ đề Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Triển vọng, thách thức và phản ứng của ASEAN và Đông Á, Viện trưởng Viện ADB cho rằng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy các nền kinh tế lớn vào tình trạng suy thoái, các nước châu Á, trong đó có ASEAN và Đông Á, cần phải điều chỉnh bằng cách cân bằng lại các nguồn tăng trưởng và trở lại xu hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách kích cầu trong nước thay vì dựa vào xuất khẩu. Theo ông, châu Á đang ở vị thế tốt hơn các khu vực khác trong việc đối phó khủng hoảng nhờ những nhân tố cơ bản của khu vực đã tốt hơn nhiều so với giai đoạn khủng hoảng tài chính châu Á 1997–1998.

Nhằm phối hợp đối phó khủng hoảng, 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản quyết định sẽ thành lập một quỹ trị giá 120 tỉ USD và yêu cầu Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trợ giúp trong thời điểm hiện nay.

Tái bố trí cơ cấu thương mại





Nhiều chuyên gia cho rằng, với khủng hoảng tại châu Á ngày càng sâu rộng, các gói kích cầu nói chung ở Đông Nam Á cũng đã khiến các nền kinh tế khu vực bị kéo căng hết cỡ. Tác động vào thị trường bằng chính sách tiền tệ sẽ không còn chỗ để phát huy hiệu quả. Trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, những nước Đông Nam Á lệ thuộc vào xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự biến đổi cơ bản về thương mại, trong đó Mỹ và châu Âu sẽ không còn là thị trường lớn của Đông Nam Á. Những gói kích thích của họ đều dựa trên một giả định giống nhau: Nền kinh tế thế giới sẽ bắt đầu hồi phục trong quý III năm nay, và từ đó, mọi việc sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay không chỉ là một cuộc suy thoái theo chu kỳ mà còn là một sự tái bố trí cơ cấu thương mại. Do đó, các nền kinh tế Đông Nam Á dựa vào xuất khẩu cần phải nhanh chóng điều chỉnh theo hướng: người tiêu thụ ở Mỹ và châu Âu sẽ không còn là khách hàng số 1 nữa.

TS. Supavud Saicheua, Giám đốc điều hành công ty Phatra Securities ở Bangkok, cho biết: “Chúng tôi đang chuyển sang xu hướng bán những gì mà Mỹ và châu Âu cần, chứ không phải bán những gì mà châu Á muốn”. Ông dự báo: “Về lâu dài, châu Á sẽ tiêu thụ nhiều hơn, trong khi châu Âu và Mỹ sẽ tiêu thụ ít hơn”.

Nhiều ý kiến cho rằng, những gói kích thích được tung ra trên cơ sở chấp nhận thâm hụt ngân sách đang trở nên thịnh hành. Ở Đông Nam Á, đã có nhiều phương pháp được áp dụng: Việt Nam chọn hỗ trợ công nghiệp, Thái Lan cố gắng làm dịu ảnh hưởng đối với những ngành dễ bị thiệt hại còn Singapore thì kết hợp cả hai hình thức này. Nếu những khó khăn trên chỉ mang tính ngắn hạn thì các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu có thể sẽ thoát hiểm nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ. Nhưng sự chuyển dịch dài hạn về cơ cấu trong nền kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho nhu cầu tiêu thụ hàng xuất khẩu từ châu Á sẽ không bao giờ quay lại mô hình của nó trước khi khủng hoảng kinh tế nổ ra.

Lê Trí
theo TG&VN