Tới đây, có thêm nhiều người Việt Nam ở nước ngoài được mua nhà trong nước, trong đó, có người gốc Việt về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, nhà khoa học, nhà văn hóa, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam…

Trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai vừa được trình trước QH sáng nay, người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, người có công đóng góp cho đất nước, nhà khoa học, nhà văn hoá, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam, người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước mà có nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chồng; và những người gốc Việt Nam được cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Những người thuộc các diện trên được chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng, cho, đổi, để thừa kế nhà ở cho các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; được thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam; được cho thuê, uỷ quyền quản lý nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở trong thời gian tạm thời không dùng để ở cho bản thân và gia đình.

Chiều nay, tại buổi thảo luận tổ, đa số các đại biểu QH đều hài lòng với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai. Đại biểu Nguyễn Văn Bé, TP HCM, cho rằng,“đồng bào ở nước ngoài rất hoan nghênh dự luật này”. Đại biểu Nguyễn Đăng Trừng nhận xét: “Nhu cầu của bà con kiều bào rất lớn. Bà con về nước mua với số lượng lớn lắm, nhưng không mua được nên phải nhờ người mua, nhờ người đứng tên, thế nên mới bị giựt dọc”. Theo ông Trừng, việc dự luật thêm vào ba đối tượng được mua nhà là “rất tốt”, tránh được những tranh chấp có thể xảy ra. Cũng theo đại biểu này, việc mở rộng đối tượng người Việt Nam ở nước ngoài được sở hữu nhà trong nước không thể làm xáo trộn thị trường bất động sản trong nước, nếu không muốn nói là tích cực trong hoàn cảnh thị trường bất động sản đang đóng băng như hiện nay.

Nên xét quyền được bồi thường khi bị thu hồi đất

Cũng tại buổi thảo luận về dự luật, không ít đại biểu băn khoăn về sự hạn chế một số quyền của kiều bào, khi chiểu theo Luật đất đai. Cụ thể, dự thảo cho phép kiều bào khi đã mua nhà có quyền được cho thuê khi không ở, hoặc được thế chấp nhà ở, nhưng lại “bỏ qua” quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, như quy định trong Điều 106 của Luật Đất đai.

“Tôi đồng ý với quyền được cho thuê và hạn chế kinh doanh, góp vốn như trong dự thảo luật, nhưng không có lý gì mà bà con không được bồi thường, nếu Nhà nước giải tỏa đất, vì khi mua nhà, giá trị đất mới là chính”, ông Trần Du Lịch nói.

Cùng ý kiến này, đại biểu Phạm Thị Loan, Hà Nội, cho rằng: “Một khi đã cho quyền mua nhà thì cũng nên cho kiều bào hưởng các quyền khác, bình đẳng với công dân trong nước như thế chấp, được bồi thường khi nhà nước thu hồi…”.

Theo tờ trình về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai của Chính phủ, hiện có khoảng hơn 3 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong số đó, có khoảng 70% vẫn còn quốc tịch Việt Nam (vẫn là công dân Việt Nam), 30% còn lại là người gốc Việt Nam. Tuy nhiên, sau gần ba năm triển khai thực hiện Luật nhà ở, mới có hơn 140 trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Chiều nay, bà Phạm Phương Thảo, Chủ tịch HĐND TP HCM, cũng cho biết, có tới khoảng 2 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có thân nhân ở TP HCM. Tuy nhiên, con số những người đã được mua nhà ở thành phố rất ít, khoảng vài chục người, dù con số này đã thuộc hàng cao nhất cả nước. Nếu dự luật này được thông qua, chắc chắn con số kiều bào về TP HCM mua nhà sẽ tăng cao.

Ông Hà Văn Hiền, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của QH: ‘Thêm kiều bào mua nhà sẽ không tác động đến thị trường bất động sản’

“Theo báo cáo của Chính phủ thì khi mở rộng đối tượng người Việt ở nước ngoài được mua nhà trong nước sẽ không tác động lớn đến thị trường bất động sản. Trên cơ sở tính toán của Bộ Xây dựng, những diện tích xây dựng nhà ở hàng năm tăng thêm và với nhu cầu hiện nay của người Việt Nam ở nước ngoài cho thấy vấn đề đó không ảnh hưởng lớn đến thị trường nhà ở trong nước.

Nếu luật này được thông qua, thì số đối tượng được mua nhà ở Việt Nam sẽ tăng lên. Tuy nhiên, con số tuyệt đối thì chưa thể dự đoán được.

Việc sửa đổi điều 126 của luật nhà ở và điều 121 của luật đất đai có tính khả thi rất cao, bởi nguyện vọng của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài là rất lớn. Tôi đã được chứng kiến nhiều bà con kiều bào ta ở nước ngoài khi tiếp xúc với các vị lãnh đạo của QH, nguyện vọng đầu tiên của họ là đề nghị QH  và Nhà nước sớm có chính sách cho kiều bào nước ngoài được mua nhà tại Việt Nam.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của luật nhà ở và điều 121 của luật đất đai

Điều 1. Điều 126 của Luật nhà ở được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 126. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

a) Người có quốc tịch Việt Nam;

b) Người gốc Việt Nam thuộc diện: người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước mà có nhà ở thuộc tài sản chung của vợ chồng.

2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam”.

 

Điều 2. Điều 121 của Luật đất đai được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 121. Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và sửa đổi, bổ sung Điều 121 của Luật Đất đai có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật đất đai;

b) Chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, đổi, để thừa kế nhà ở cho các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho các đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì các đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đó;

c) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;

d) Cho thuê, uỷ quyền quản lý nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở  trong thời gian tạm thời không dùng để ở cho bản thân và gia đình”.

Điều 3. Điều khoản thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2009.

2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Điều 105, 106, 107, Luật Đất đai năm 2003

Điều 105. Quyền chung của người sử dụng đất

Người sử dụng đất có các quyền chung sau đây:

1. Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất;

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp;

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp;

5. Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;

6. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Điều 106. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Mục 4 Chương II của Luật này.

Điều 107. Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

Người sử dụng đất có các nghĩa vụ chung sau đây:

1. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao

trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật;

2. Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

3. Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

4. Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất;

5. Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan;

6. Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất;

7. Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất.

Lê Hùng
theo baodatviet