(Tổng hợp đánh giá của các nghiên cứu sinh kinh tế Việt Nam đang du học nước ngoài trên diễn đàn Minh Biện và Nhật báo kinh tế Thụy Sĩ. Tiếp theo kỳ 1)

Bão suy thoái ảnh hưởng tới Đông Nam Á

Quay trở lại khu vực Đông Nam Á, bão đã tràn vào khu vực. Inđônêxia lại là nước hứng chịu đầu tiên. Tuy nhiên, khác với năm 1997, các nền kinh tế ASEAN ở trong tình trạng sẵn sàng đối phó với điều kiện tốt hơn hẳn. Dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương đủ mạnh để đập tan bất cứ một cuộc tấn công đầu cơ nào. Không những thế, cơ chế hoán đổi ASEAN+3 cũng là một hàng rào phòng thủ tiếp theo tạo điều kiện cho các nước đương đầu với khủng hoảng. Nhìn chung, nền kinh tế vẫn hoạt động tốt, không bị ảnh hưởng. Tài sản cá nhân ít bị tác động vì thế tiêu dùng vẫn mạnh. Khu vực Đông Nam Á không có các bong bóng bất động sản (BĐS), chứng khoán lớn. Một số nước có bong bóng bất động sản, chứng khoán như Xinhgapo, Việt Nam, Thái Lan thì đã ở trong giai đoạn cuối, đó là các ngân hàng đã có thời gian chuẩn bị để đối phó. Tóm lại, bong bóng BĐS và chứng khoán của khu vực đã được xì ra từ đầu năm. Các bong bóng này cũng không tác động đến nền kinh tế và tài sản cá nhân. Nói cách khác, tác động của BĐS và chứng khoán lên các nền kinh tế ĐNA là hạn chế và chỉ một số người bị ảnh hưởng trực tiếp.

Nguy cơ lớn nhất đối với các nước ĐNA vẫn là lạm phát, nội tệ mất giá. Tuy nhiên, với các nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như Việt Nam, cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay khiến giá cả hàng hóa giảm nhiều, trong đó có xăng dầu, đã khiến lạm phát giảm xuống.

Một điểm thuận lợi nữa của ĐNA là các nhà đầu tư lớn như Nhật, EU đã nhắm vào khu vực và lên chiến lược đầu tư dài hạn trong 10 năm tới. Trong ĐNA, Nhật nhắm mạnh nhất vào Việt Nam . Chiến lược đầu tư vào Việt Nam của Nhật là nhất quán từ chính phủ cho đến các tập đoàn lớn. Các động thái của Nhật rất rõ ràng và kiên quyết. Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Việt Nam vẫn sẽ là nơi Nhật xác định sản xuất của họ. Sắp tới sẽ có thể diễn ra những thương vụ M&A lớn ở Nhật và ở Việt Nam trong chiến lược đầu tư của Nhật. Ngày 6/10, Nhật cũng sáp nhập JICA và JBIC vào thành một quỹ viện trợ ODA khổng lồ. Mục tiêu của quỹ này cũng là nhắm vào ĐNA, vì chiến lược đầu tư của Nhật bao giờ cũng đi kèm với sự đổ bộ dọn đường của ODA.

Nói rộng ra, trong lúc khủng hoảng diễn ra từng ngày từng giờ, rất cần có sự phối hợp giữa các nước thì chưa bao giờ nội bộ ASEAN lại bấn loạn như bây giờ. Nói cách khác, ASEAN đang có một cuộc khủng hoảng chính trị. Xung đột Thái Lan và Lào đã dẫn đến những cuộc đụng độ vũ trang có đổ máu. Nội bộ Thái Lan tiếp tục chìm trong biểu tình bạo lực. Tranh chấp quần đảo Saba giữa Philíppin và Malaixia lại bùng phát. Chính phủ Philíppin cấm toàn bộ máy bay bay qua không phận của Philíppin đến Saba .

Đây là một điều hết sức đáng buồn. Vào năm 1997 khi khủng hoảng tài chính xảy ra, ASEAN đã có cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp để bàn cách đối phó, và đã đề ra Sáng kiến Chiềng Mai về thỏa thuận hoán đổi. Năm 2003 khi đại dịch SARS bùng nổ, ASEAN đã phản ứng rất nhanh cũng với một cuộc họp thượng đỉnh khẩn cấp do Thái Lan triệu tập. Kết quả là một chương trình hành động và một quỹ được thành lập.

Hiện nay ASEAN đang phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng từ bên ngoài tràn vào. Cho dù nền tảng của các nước ASEAN là hoàn toàn lành mạnh, tuy nhiên với một cuộc khủng hoảng có thể nói là “Đại khủng hoảng” này thì ASEAN phải có ứng phó kịp thời.

Tuy nhiên, các nước lãnh đạo của ASEAN đang bị các mâu thuẫn chính trị giằng xé cả trong lẫn ngoài. Thậm chí cuộc họp cấp cao ASEAN năm nay, đáng ra dự kiến tổ chức ở Thái Lan, biết đâu lại phải dời đến Việt Nam . Với điều kiện chính trị bất ổn như hiện nay ở Thái Lan từ nay đến cuối năm (trong nước thì bạo lực, ngoài nước thì tranh chấp biên giới) thì không biết Thái Lan có tổ chức được không.

Nếu không thì sẽ phải đến lượt Việt Nam vì theo trật tự Alphabet. Nhìn đi nhìn lại thì trong ASEAN hiện nay, có lẽ Việt Nam tạm thời là nơi tương đối bình yên trong một thế giới đầy biến động này.

Trong sự thiếu vắng các sáng kiến hợp tác khu vực để đối phó với khủng hoảng, nên chăng Việt Nam có một sáng kiến gì đó trong lúc này. Nếu làm được thì rất có lợi, cho dù chỉ là một đề nghị để ít nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài thấy Việt Nam vẫn là nơi tương đối an toàn.


Các tác động tới Việt Nam

Rất khó dự đoán một cách chính xác trên cơ sở đo đếm được tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính của Mỹ đối với Việt Nam .

Thứ nhất, nếu nhìn nhận từ góc độ kinh tế vĩ mô, các chỉ số kinh tế đều đã được ổn định, thặng dư tài khóa là khoảng 1,5% trên GDP, thu ngân sách tăng 10%, thâm hụt thương mại giảm, FDI tăng gần gấp đôi, nợ nước ngoài ở mức an toàn (30% GDP), dự trữ ngoại hối tăng, lạm phát có xu hướng giảm.Tóm lại là tổng cán cân thanh toán của Việt Nam hiện nay ở mức an toàn (Toàn bộ số liệu được lấy ở các báo cáo Outlook của WB, ADB, Bloomberg).

Thứ hai, nguy cơ chính của kinh tế Việt Nam vẫn là lạm phát, và nguy cơ này vẫn sẽ tiếp tục trong năm 2009. Lạm phát của Việt Nam là do cả hai yếu tố bên ngoài cost push (lạm phát do phí tổn gia tăng) và demand-pull (lạm phát do mức cầu gia tăng).

Nếu căn cứ trên hai yếu tố đó để dự đoán thì cost push sẽ giảm trong năm 2009 do giá dầu trên thế giới giảm. Vào đầu năm 2009, nhà máy lọc dầu Dung Quất dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động nên sẽ tiếp tục làm giảm bớt gánh nặng lên ngân sách và hạn chế yếu tố cost-push với lạm phát.

Yếu tố hai là demand-pull cũng đã và sẽ tiếp tục bị hạn chế vì với lãi suất cao, nguồn vốn trôi nổi bị hút vào ngân hàng làm giảm chi tiêu.

Tất nhiên đồng nghĩa với lạm phát giảm là tăng trưởng giảm, không thể một mặt vừa chống lạm phát và một mặt lại duy trì tăng trưởng được. Dự đoán tăng trưởng của Việt Nam là 6,5% trong năm 2009. Con số Quốc hội đặt ra 7% là ảo tưởng.

Trong ba lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ thì tăng trưởng trong công nghiệp là sụt giảm mạnh nhất, tiếp theo là nông nghiệp. Dịch vụ có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Sự sụt giảm tăng trưởng trong các lĩnh vực là nhất quán với sự sụt giảm tăng trưởng chung của toàn quốc.

Thứ ba, về trung hạn và dài hạn cái đáng lo ngại nhất đối với kinh tế Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), xương sống và động lực phát triển kinh tế. Cần có cái hiểu đúng về DNVVN. Nếu phân theo lao động, doanh nghiệp (DN) nhỏ là DN có lao động dưới 200 lao động. DN vừa là DN có lao động từ 200 đến 1000. DN lớn là trên 1000.

Hầu hết các DN nhỏ Việt Nam, và một phần DN vừa đã không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng kể từ trước đây rất nhiều năm chứ không phải đợi đến khi lãi suất tăng đến hơn 20% như hiện nay họ mới gặp khó khăn. Vì vậy, quan điểm rằng các DN nhỏ và vừa của Viêt Nam gặp khó khăn vì gần đây nhà nước tăng lãi suất là chưa chính xác lắm.

Trong vòng 10 năm qua, vấn đề DNVVN tiếp cận nguồn vốn ngân hàng luôn là vấn đề gây tranh cãi rất lớn ở Việt Nam . Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ trước đây đã ít có hỗ trợ với các DNVVN. Ngay cả ngân hàng phát triển nông thôn cũng chỉ dành một phần rất nhỏ để hỗ trợ DNVVN.

Nguồn vốn chính của DNVVN từ trước tới nay vẫn là các nguồn vốn không chính thức, một số từ các tổ chức phi chính phủ. Điều này cho thấy việc tăng lãi suất để hạn chế lạm phát sẽ ảnh hưởng đến nhiều DNVVN là không chính xác vì bản thân DNVVN đã chịu cảnh thiếu vốn từ hàng chục năm nay rồi.

Yếu tố tác động mạnh nhất đối với DNVVN không phải là lãi suất mà là lạm phát. Thông thường thị trường của các DNVVN là thị trường trong nước. Đầu ra và đầu vào của DNVVN đều phụ thuộc vào giá cả trong nước là chính vì họ ít xuất khẩu. Vì vậy, nếu lạm phát tăng thì DNVVN sẽ hứng chịu tác động nhiều nhất và sẽ phải đóng cửa nhiều nhất.

Với các DN có trên 1000 lao động, thì thường được đánh giá là có tiềm lực vì vậy họ tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng. Đây mới là các DN bị ảnh hưởng mạnh trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, điều đáng nói là các DN tư nhân có số lượng CN trên 1000 ở Việt Nam là không nhiều so với các DNVVN. Vì vậy tác động về mặt lao động sẽ ít và hạn chế hơn so với DNVVN.

Từ điểm phân tích trên, ta thấy nếu lấy chỉ số lao động làm chỉ số chính để so sánh tác động của lạm phát và lãi suất cao thì ta sẽ thấy rất rõ là lạm phát sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến DNVVN lớn hơn rất nhiều so với lãi suất. Vì bản thân DNVVN đã chịu cảnh thiếu vốn trong hàng chục năm nay và nếu lạm phát tăng thì họ sẽ phải đóng cửa hàng loạt, chứ không phải do lãi suất tăng.

Một điểm khác nữa với phần nhiều lao động của DNVVN với các DN lớn là phần lớn các lao động là lao động thời vụ. Thu nhập của họ là sự kết hợp giữa lao động hưởng lương và sản xuất nông nghiệp vì phần lớn họ còn ruộng. Do vậy, kể cả trong trường hợp phần lao động hưởng lương của họ bị giảm, họ vẫn duy trì được phần thu nhập từ làm ruộng.

Vì vậy, nếu trọng tâm ưu tiên của Việt Nam là bảo vệ người lao động trong thời gian khủng hoảng thì đó là công nhân ở các DN tư nhân lớn, ở các liên doanh với nước ngoài, và thậm chí cả công nhân các tập đoàn nhà nước.

Thứ tư, bong bóng BĐS của Việt Nam đã được xì hơi. Điểm may mắn ở đây là nó được xì hơi rất sớm, chứ nếu nó nổ vào thời điểm này thì là điều đáng ngại. Tháng 9 và tháng 10 hiện nay là thời điểm dân BDS gọi là giải chấp. Hàng loạt dự án BĐS sẽ được bán ra. Các ngân hàng dính vào vụ BĐS này hiển nhiên là gặp khó khăn chồng chất. Tỉ lệ nợ BĐS là khoảng 30%. Tuy nhiên, đây sẽ là một cú hạ cánh nhẹ nhàng vì thị trường BĐS và các ngân hàng đã có hơn 6 tháng để chuẩn bị cho các tác động đó.

Biện pháp đối phó của Việt Nam

Khi có bão thì phải đóng cửa chặt. Có lẽ đó là câu đầy đủ nhất và có hàm ý rộng nhất. Rất may cho Việt Nam là đã phải chống bão từ đầu năm rồi. Trận bão vào Quý 1 đã khiến Việt Nam kịp thời áp dụng các biện pháp hợp lý để phòng vệ. Các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô đã phát huy tác dụng, lạm phát giảm, tính thanh khoản giữa các ngân hàng được tăng cường, thanh khoản của thị trường được bảo đảm, thu hẹp cán cân thâm hụt thương mại, tăng cường ngân sách nhà nước, tăng cường được dự trữ ngoại hối, kể cả vàng. Sự chao đảo của thị trường thế giới khiến giá nguyên liệu giảm cũng khiến Việt Nam dễ thở hơn và làm giảm gánh nặng ngân sách trợ cấp nguyên liệu. Các ngân hàng thương mại cũng được hỗ trợ bằng biện pháp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Điều này cũng làm các ngân hàng thương mại dễ thở hơn khi vẫn phải tiếp tục thắt chặt tiền tệ.

Về các DNVVN, đây là vấn đề hóc búa. Như đã phân tích ở trên, vấn đề thiếu vốn ở các DNVVN đã tồn tại từ hàng chục năm chứ không phải đến bây giờ mới xuất hiện. Bản thân các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng không hướng vào các DNVVN trong các hoạt động của mình. Vì vậy, thậm chí với lãi suất cao, có một số DNVVN vẫn chấp nhận vay, nhưng chỉ rất ít trong số họ được vay. Ngoài ra, các DNVVN bị tác động tiêu cực từ lạm phát cao nhiều hơn là lãi suất ngân hàng. Vì vậy, khó khăn với các DNVVN sẽ tiếp tục khi nào lạm phát vẫn cao.

Với hàng nghìn các DNVVN, một giải pháp để hỗ trợ đồng bộ là khó.


Một số vấn đề sau để cân nhắc:

Thứ nhất, có phân loại các DNVVN làm xuất khẩu và các DNVVN tập trung vào sản xuất trong nước. Với các DNVVN làm xuất khẩu, hình thức hỗ trợ theo kiểu EXIM Bank có thể được xem xét. Các EXIM Bank này cung cấp tín dụng, bảo lãnh tín dụng trực tiếp cho các DNVVN trong xuất khẩu.

Thứ hai, khuyến khích việc mua bán sáp nhập giữa các DNVVN có cùng lĩnh vực. Hình thức mua bán công ty, DN ở VN chưa phát triển. Nhưng trong bối cảnh kinh tế thị trường, cần khuyến khích việc mua bán, sáp nhập các doanh nghiệp vì nó là hình thức khuyến khích đầu tư. Cũng như Mỹ phải vượt qua sự cản trở về ý thức hệ – đó là mối lo sợ nếu quốc hữu hóa các ngân hàng và DN thì sẽ chuyển thành XHCN” với Việt Nam, cũng cần vượt ra khỏi sự cản trở về ý thức hệ rằng nếu các DN tư nhân sáp nhập thì sẽ làm kinh tế tư bản lớn mạnh ở Việt Nam.

Thứ ba, khuyến khích các tổ chức phi chính phủ (NGO) tập trung hỗ trợ các DNVVN. Hiện nay có khoảng gần 1000 các tổ chức NGO nước ngoài hoạt động ở Việt Nam . Có rất nhiều các tổ chức này đã có các dự án về tài chính vi mô để hỗ trợ cho các DNVVN. Với hàng trăm nghìn các DNVVN nằm ở phạm vi toàn quốc, hy vọng để có một chương trình tổng thể bao trùm là ảo vọng. Nếu không biết tận dụng các tổ chức NGO này thì sẽ rất phí vì họ có kinh nghiệm rất cụ thể về từng lĩnh vực họ làm. Ngoài ra, bản thân Bộ NN&PTNN cũng nên hỗ trợ việc thành lập các NGO địa phương ở từng khu vực và trong từng lĩnh vực ngành nghề. Các NGO địa phương này sẽ hoạt động theo hình thức độc lập và được giám sát bởi các NGO quốc tế, tuy nhiên với nguồn ngân sách nhà nước.

Thứ tư, tương tự như khuyến nghị thứ ba về thành lập các NGO địa phương, thành lập các quỹ tín dụng hỗ trợ DNVVN. Hiện đã có một số quỹ hoạt động rất hiệu quả với tổng số vốn lên tới gần 150 triệu đôla và cho đến nay đã cho gần 20.000 hộ dân vay, cá thể cũng như tập thể. Những quỹ tương tự như vậy có thể thành lập ra để hỗ trợ các DNVVN.

Bão tài chính hiện nay đang hoành hành bên ngoài. Trong năm tới, FDI và các nguồn vốn về Việt Nam có thể giảm. Vì vậy, việc duy trì nội lực “đó là các DNVVN” là hoàn toàn không đơn giản, đặc biệt trong khi vẫn phải siết chặt chính sách tiền tệ để bảo đảm ổn định vĩ mô. Nhưng thiết nghĩ Việt Nam có đủ lực và nỗ lực để có thể vượt qua cơn bão khủng khiếp này.

(còn tiếp)


theo TTXVN