Mua một phần hay mua toàn bộ DN trong thời điểm này trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết khi nhiều DN đã suy kiệt khả năng đầu tư thêm bằng năng lực nội tại, hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) do đó được dự đoán có nhiều tiềm năng tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều đáng nói là khuôn khổ pháp lý tại Việt Nam cho lĩnh vực này chưa đầy đủ, rõ ràng, khiến cả người bán, kẻ mua và cơ quan quản lý có nhiều phen khó xử

Theo bà Trần Phương Lan, Trưởng ban Giám sát và quản lý cạnh tranh (Cục Quản lý cạnh tranh), điểm lại 3 năm gần đây, hoạt động M&A chịu tác động mạnh bởi những diễn biến trên thị trường tài chính. Năm 2006 chỉ có 38 vụ giao dịch thành công với 299 triệu USD. Năm 2007 là thời gian bùng nổ các thương vụ M&A với 113 vụ giao dịch, tổng giá trị là 1,75 tỷ USD, trong đó trên 3/4 (khoảng 1,35 tỷ USD) thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính. Từ đầu năm 2008 đến nay, cơ quan quản lý chưa có con số thống kê, song ghi nhận sơ bộ thì thấy số lượng và giá trị các giao dịch công bố đều giảm, nguyên nhân chủ yếu là do diễn biến không thuận lợi của nền kinh tế.

Bà Lan nhận định, trên TTCK, giao dịch mua cổ phần dạng này thường do các quỹ đầu tư hoặc các định chế tài chính nước ngoài tiến hành với mục đích thu lợi nhuận, tập trung vào các cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn, tính thanh khoản cao như FPT, ACB, VNM… Một số giao dịch điển hình như Deustche Bank mua 5,22% cổ phần của FPT và 5,71% cổ phần của VNM; VOF mua 8,83% cổ phần của REE. Đáng lưu ý là không nhiều trường hợp thâu tóm để tham gia điều hành và quản lý kinh doanh như ANZ mua SSI, Swiss Re mua Vinare, HSBC mua 10% cổ phần (225 triệu USD) của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, sau đó là 15% cổ phần của Ngân hàng Techcombank; Lotte (Hàn Quốc) mua 30% cổ phần của CTCP Bánh kẹo Biên Hòa; Morgan Stanley (Mỹ) mua 10% cổ phần của Công ty Tài chính Dầu khí. Tính đến hết năm 2007 đã có 1.092 dự án với tổng vốn đầu tư 16,8 tỷ USD có hoạt động chuyển nhượng vốn (tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng với 63% số dự án và 71% tổng vốn).

Tiến sỹ Ngô Công Thành, Cục Đầu tư nước ngoài (ĐTNN), Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay có sự bất công bằng trong quan hệ giữa DN trong nước và nước ngoài. Trong khi các nhà ĐTNN thường là các DN, các tập đoàn xuyên quốc gia lớn, với kinh nghiệm, năng lực tài chính, có các bộ phận pháp lý chuyên trách về M&A tại các thị trường mới như Việt Nam hoặc có khả năng thuê tư vấn giỏi, thì các DN nhỏ và vừa Việt Nam lại không có được điều này. Hơn nữa, do hoạt động M&A còn khá mới tại Việt Nam và các thủ tục liên quan còn chưa minh bạch nên không ít trường hợp DN trong nước chịu thiệt thòi.

Bên cạnh tác động của tình hình kinh tế thế giới suy giảm, một khó khăn nữa cho hoạt động M&A là khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng, nằm rải rác tại nhiều văn bản và có sự xung đột dẫn tới các cách hiểu, giải thích không giống nhau, gây khó khăn khi thực hiện. Chẳng hạn, hoạt động M&A có liên quan đến DN niêm yết do UBCK quản lý, liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài thì thuộc thẩm quyền của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hay theo Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các DN Việt Nam. Tổng mức vốn cổ phần do nhà ĐTNN nắm giữ trong một DN không được vượt quá 30% vốn điều lệ của DN đó, trừ khi luật Việt Nam có quy định khác hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép. Kể từ đầu năm 2008, hạn chế 30% nêu trên được bãi bỏ theo cam kết gia nhập WTO, ngoại trừ việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các ngân hàng và với những ngành không cam kết trong Biểu cam kết. Thế nhưng, hiện tại vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nên quy định cũ vẫn có hiệu lực thi hành.

Theo nhận định của các chuyên gia, có thể liệt kê một số ngành được cho là sẽ đón nhận nhiều thương vụ M&A tới đây như ngân hàng, chứng khoán, phân phối, dược phẩm, kiểm toán. Những ngành này đều có đặc điểm chung là phát triển bùng nổ trong một vài năm gần đây, quy mô nhỏ, phân tán, đòi hỏi việc tái cấu trúc để nâng cao khả năng cạnh tranh. Do đó, tháo gỡ những vướng mắc liên quan đến khung pháp lý cho M&A để DN có thể tận dụng tốt các cơ hội gọi vốn là rất cần thiết trong thời điểm này. Ngoài ra, theo đề xuất của Cục ĐTNN, Nhà nước cần giao cho một cơ quan đầu mối trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư; phối hợp với các bộ, ngành và địa phương lập danh mục các DN cần bán cổ phần hoặc bán toàn bộ DN, trong đó nêu đầy đủ các thông tin về DN và các dự án đầu tư mà DN đang thực hiện, điều kiện chuyển nhượng, tập hợp và in thành tài liệu để giới thiệu với các tập đoàn xuyên quốc gia và các nhà ĐTNN quan tâm đầu tư vào Việt Nam; đưa hoạt động vận động các nhà ĐTNN mua lại DN Việt Nam và khuyến khích DN Việt Nam mua lại DN nước ngoài vào nội dung Chương trình Xúc tiến đầu tư quốc gia


theo tinnhanhchungkhoan