Hy vọng trong buổi khó bởi Nguyễn Quang

Khủng hoảng kinh tế có một tác động tích cực là thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, tái cấu trúc lại thị trường, sản phẩm; cắt giảm chi phí; có cơ hội thử thách để tìm kiếm, sử dụng những người giỏi, sàng lọc người kém.

1. Khủng hoảng kinh tế – góc nhìn từ Việt Nam

Sau những dè dặt, các nhân vật có uy tín và thẩm quyền trên khắp thế giới đã không thể không chấp nhận thực tế: khủng hoảng bắt đầu từ lĩnh vực tài chính và khởi đầu từ nước Mỹ đã lan rộng ra toàn bộ các lĩnh vực khác của nền kinh tế và có quy mô toàn cầu.

Đối với Việt Nam, với mức độ hội nhập vào nền kinh tế thế giới vẫn chưa đủ rộng và sâu, những tác động bước đầu của khủng hoảng từ khu vực trung tâm của kinh tế thế giới đã bắt đầu hiển hiện.

Sau nửa năm phải đối phó chật vật với lạm phát, những tháng cuối năm đã xuất hiện những dấu hiệu bước đầu của suy giảm kinh tế. Trong khi vẫn đang đối phó với tình trạng nhập siêu, xuất khẩu đã giảm 3 tháng liên tiếp. Kim ngạch xuất khẩu của tháng 10/2008 chỉ đạt 5,1 tỷ USD, giảm 1,7 tỷ USD so với tháng trước và đến tháng 11, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 4,8 tỷ USD. Tổng kết của chính phủ cũng cho thấy tính đến tháng 11/2008, 5 tháng liên tiếp giá trị sản xuất công nghiệp giảm sút…

Chính phủ cũng đã tiên lượng những tác động tiêu cực của khủng hoảng sẽ lớn hơn trong năm tới khi dự kiến các chỉ tiêu tăng trưởng cho năm 2009 đều giảm. Chẳng hạn, tốc độ tăng GDP là 6,5% (so với 6,7% của 2008), kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 13% (so với 31,8% năm 2008), FDI dự kiến là 30 tỷ (giảm hơn một nửa so với 2008)…

Một dữ kiện quan trọng, thể hiện lượng định của chính phủ là gói giải pháp tài chính nhằm kích cầu lúc đầu dự định là 1 tỷ USD có thể lên đến 6 tỷ USD, tức khoảng 7,9% GDP. Đây là một con số không nhỏ nếu so với các gói giải pháp, chẳng hạn, của Mỹ khoảng 700-800 tỷ USD nhưng cũng chỉ chiếm khoảng  4,8% đến 5,5% GDP, của Nhật khoảng 275 tỷ USD tức khoảng hơn 6% GDP…

   

Lạm phát, khủng hoảng, suy thoái… là những khái niệm mà những người hiểu biết rất sâu về bản chất của nó chưa chắc đã có cảm nhận đầy đủ sức nặng bằng những người lao động đang phải vất vả chống chọi hàng ngày, với những tính toán nhọc nhằn về việc làm bấp bênh ngày mai, về từng bữa ăn đang ngày càng phải tằn tiện, về những chi phí thiết yếu ngày càng tăng không cùng chiều  với thu nhập…

Một bộ phận khác cũng sẽ cảm nhận theo cách riêng đó là các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp dân doanh. Đây là lực lượng tạo nên số việc làm to lớn cho xã hội, nhưng cũng là lực lượng bị tổn thương nhiều nhất trong giai đoạn khó khăn này. Thua lỗ, nợ nần, hàng hóa tồn đọng, nguy cơ phá sản đã làm cho các doanh nhân lao đao xoay xở. Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, 20% DNVVN đứng trước nguy cơ phá sản, 60%  là “những DN bị lạm phát và khủng hoảng kinh tế tác động mạnh và hiện đang trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh bị đình trệ”.

Nhưng như mọi thứ trên đời, trong khó khăn đã có hạt mầm của hy vọng. Vấn đề là hãy nắm bắt những cơ hội, ươm những hạt mầm của thay đổi.


2. Tàn giấc mơ hoa?

“Huyền thoại thị trường có khả năng tự điều chỉnh đã sụp đổ như ngôi nhà giấy” Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva đã phát biểu như vậy tại Hội nghị G20 được tổ chức vào tháng 11/08. Điều này đã nhận được nhiều đồng thuận. Nhưng, khẳng định cơ chế thị trường đã phá sản là một khẳng định hồ đồ.

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và một số nước khác có một nguyên nhân từ chính những sai lầm của quản lý nhà nước. Chính quá trình bãi bỏ các hạn chế, nới lỏng kiểm soát (mà người Mỹ gọi là deregulation) đối với các định chế tài chính, khuyến khích việc mở rộng bừa bãi các sản phẩm tài chính phái sinh (derivatives), duy trì một mức lãi suất thấp và một chính sách tiền tệ mở rộng để đạt được thành tích tăng trưởng đã tích lũy những vấn đề ngày càng trầm trọng và nổ bùng thành khủng hoảng ngày nay.

Như thế, cuộc khủng hoảng tự nó đã cung cấp một bằng chứng thực tiễn không thể bác bỏ: thị trường không phải là cơ chế tốt nhất nhưng là một cơ chế ít xấu nhất để vận hành nền kinh tế. Đừng để mặc thị trường mù quáng nhưng cũng cần nhận thức: sự can thiệp của cơ quan quản lý không phải bao giờ cũng đúng. Nhất là khi thiếu những cơ chế tự vệ trước những tác động của các nhóm lợi ích. Kết luận này rất hữu ích đối với một nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hoàn thiện.

Những biến động thị trường cũng đã chứng tỏ thị trường khó – chính xác là không thể – đem lại sự công bằng về cơ hội cho mọi người. Sự bất bình đẳng về cơ hội xuất phát từ sự bất bình đẳng về thông tin, về khả năng tiếp cận thị trường, về năng lực tài chính, về ưu thế quan hệ, về quyền lực… Nhìn nhận điều này là để thấy nghĩa vụ bắt buộc của Nhà nước trong việc bảo vệ những nhóm yếu thế và cũng để lần nữa, kêu gọi sự liên đới xã hội như là một nghĩa vụ đạo lý không thể thoái thác của những người thành công trên thị trường, tức những người giàu.

Tin vui ở đây là trong khi chúng ta vẫn đang ngổn ngang với tiến trình xây dựng và hoàn thiện thị trường: nhiều điều quá mới, nhiều điều vẫn còn hồ nghi, thì những gì trải nghiệm đã giúp xác tín về nhận thức, cung cấp nhiều kinh nghiệm cực kỳ quý giá cho việc quản lý kinh tế – xã hội và điều tiết thị trường.

 

3. Chìa khóa then chốt

Khủng hoảng từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây đều cho thấy tính chất ngày càng trở nên vô cùng phức tạp của các hoạt động quản lý từ quản lý quốc gia đến quản trị các tổ chức kinh doanh. Mọi quyết định đều phải cân nhắc giữa vô số lựa chọn và đánh đổi. Tính chất phức tạp càng gia tăng khi xã hội ngày càng đa dạng về cơ cấu lợi ích.

Trong bối cảnh đó, những xung đột về lợi ích đôi khi làm cho những điều thấy rõ là đúng đắn cũng không thể thực hiện. Chẳng hạn, không ở đâu có các chuẩn mực quản trị ngân hàng tốt như ở Mỹ, nhưng chính các ngân hàng của Mỹ lại là những ngân hàng thọ nạn đầu tiên. Mọi sai lầm dù nhỏ của bộ máy quản lý đều để lại những hậu quả khó lường.

Vì thế, nhà quản trị bất kỳ ở cấp nào đều đòi hỏi những hiểu biết uyên bác; những kỹ năng và phẩm chất đa dạng nhưng trên hết vẫn là cam kết gắn bó đời mình, sự nghiệp của mình với triển vọng của tổ chức, của quốc gia thay vì nhăm nhăm tìm cách trục lợi.

Mọi tổ chức đều phải đối diện với vấn đề làm sao tìm được những người lãnh đạo tốt nhất có thể có. Chìa khóa then chốt vẫn là mở rộng và hoàn thiện các thiết chế dân chủ phù hợp với bối cảnh đặc thù của từng quốc gia. Dân chủ còn là phương cách để mọi ý kiến xây dựng đều được phát biểu và lắng nghe, mọi sáng kiến đều được ghi nhận. Thiếu điều này, e rằng khó có thể đối phó thành công với những thách thức của một thế giới biến đổi chóng mặt. Dân chủ cũng là một phép thử để sàng lọc những giá trị thật, giả.

4. Trả cho Caesar những gì của Caesar

Một nguyên nhân gốc rễ của khủng hoảng là sự thoát ly của lĩnh vực tài chính với nền kinh tế thực. Tài chính với chức năng nguyên thủy là lưu chuyển vốn đến nơi có hiệu quả cao nhất nhằm hỗ trợ cho hệ thống sản xuất sản phẩm và dịch vụ, đã dần dần thoát ly vai trò phương tiện để trở thành cứu cánh.

Hơn thế, với những phát kiến phức tạp, tinh vi mà đôi khi có rất ít lợi ích thiết thực cho nền kinh tế thực; với việc nắm giữ trong tay nguồn lực tài chính trong một nền kinh tế ngày càng được tiền tệ hóa cao độ – tức cũng phụ thuộc cao độ vào hệ thống tài chính – đã tạo ra những ảo tưởng độc hại về tác động khuynh đảo của tài chính đối với phát triển kinh tế.

Chính ảo tưởng này cộng với áp lực tạo thành tích tăng trưởng đã kích thích các chính phủ sử dụng dễ dãi các công cụ của chính sách tiền tệ và tài khóa mà sớm muộn nền kinh tế cũng sẽ gánh hậu quả.

Mặt khác, các hệ thống tài chính do ngày càng được giảm áp lực kiểm soát đã dần dần xa rời những nguyên tắc thận trọng trước rủi ro, dành chỗ cho những toan tính phiêu lưu, đầu tư bất cẩn mà thu siêu lợi nhuận nhưng được khoác dưới các tấm áo hào nhoáng của cải cách, của hiện đại hóa. Tài chính, ở một góc độ nào đó, ngày càng trở nên khó hiểu với đa số công chúng, những người mà bằng những đồng tiền tiết kiệm của mình đã tạo nền tảng cho toàn bộ hoạt động của chính nó.

Những gì diễn ra đã trao cho chính phủ các nước một cơ hội cải tổ hệ thống tài chính. Thứ nhất, trả lại một vị trí xứng đáng nhưng đúng mực và khiêm tốn hơn cho hệ thống tài chính. Trước sau thì sản xuất của cải và dịch vụ vẫn là nền tảng của nền kinh tế. Thứ hai, phải thiết lập những nguyên tắc kiểm soát và hạn chế đối với hệ thống tài chính, xây dựng những tiêu chuẩn mới về công khai, minh bạch nhằm ngăn ngừa các hiện tượng bất chấp rủi ro để trục lợi. Thứ ba, phải luôn cảnh giác với những xu hướng lạm dụng các công cụ tiền tệ và tài khóa để tạo nên những tăng trưởng ngắn hạn.

5. Trở về mái nhà xưa

Để đạt mục tiêu tăng tốc phát triển, các nước đang phát triển đã phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu sang các nước phát triển. Hệ quả là thị trường nội địa đã tăng trưởng không tương xứng. Mặt khác, trong khi mức tăng trưởng của các nước phát triển trong khoảng vài thập niên gần đây đều không cao, hiệu quả đầu tư đều đã có những vấn đề, thì xuất khẩu từ các nước đang phát triển vào các nước này vẫn không ngừng gia tăng.

Trung Quốc là một thành công điển hình theo mô hình này trong khoảng 3 thập niên qua. Tuổi trẻ online ngày 9/12/08 dẫn lại các số liệu cho thấy từ mức thâm hụt 1 tỷ USD vào năm 1978 đến nay Trung Quốc đã đạt thặng dư mậu dịch lên đến 300 tỷ USD. Tiêu dùng nội địa chỉ đóng góp 35,3% vào GDP, trong khi Mỹ chiếm đến 72%. Khi suy thoái kinh tế ở các nước nhập khẩu diễn ra, nhập khẩu đương nhiên giảm sút. Hậu quả là xuất khẩu của Trung Quốc không còn được giữ được đà tăng trước đó.

Số liệu thống kê của chính TQ cho thấy xuất khẩu tính đến tháng 11/2008 giảm 2,2% so với năm trước. Đây là lần suy giảm đầu tiên sau 7 năm, tính từ 2001 là năm TQ gia nhập WTO. Mức tăng trưởng kinh tế trong quý 3/2008 chỉ đạt 9% so với mức 12% của năm 2007, thấp nhất trong vòng 5 năm qua. Dự báo mới nhất của WB về tăng trưởng của TQ trong năm 2009 sẽ không cao hơn 7,5%, tức chỉ còn một nửa so với thời kỳ đỉnh cao.

Chính phủ TQ đã khẩn cấp thực hiện một chương trình kích thích kinh tế mà trọng tâm là kích cầu nội địa với gói giải pháp 586 tỷ USD, chiếm khoảng 16% GDP. Đây là một con số lớn nếu so với gói giải pháp của Mỹ hoặc của Nhật chỉ chiếm dưới 6% GDP. Có thể thấy, TQ đã nhìn nhận tầm mức nghiêm trọng của vấn đề.

Khủng hoảng không những bộc lộ những điểm bất cập của mô hình đặt trọng tâm vào xuất khẩu mà còn bắt buộc phải trở lại với việc chăm lo thị trường nội địa nếu không muốn đối diện với suy thoái nghiêm trọng. Đây chính là cơ hội tốt để tái cấu trúc nền kinh tế, để cho quá trình phát triển trở nên bền vững hơn và cũng có tính nhân văn hơn.

Chúng ta cũng gặp phải những vấn đề tương tự nhưng tất nhiên, ở một quy mô nhỏ hơn nhiều. Dù thế, phát triển thị trường nội địa, trước hết là tăng sức mua của khu vực nông thôn chiếm đến 72,56% dân số vẫn phải là ưu tiên hàng đầu. Quá trình này cũng để nhằm điều chỉnh những bất hợp lý trong phân phối lợi ích khi người nông dân chỉ nhận được một tỷ lệ lợi nhuận thấp trong dây chuyền xuất khẩu dù họ đã là lực lượng chủ lực tạo nên các thành tích ngoạn mục về xuất khẩu nông sản.          

6. Hy vọng

Cuối cùng, khủng hoảng có một tác động tích cực là thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, tái cấu trúc lại thị trường, sản phẩm; cắt giảm chi phí; có cơ hội thử thách để tìm kiếm, sử dụng những người giỏi, sàng lọc người kém. Trong chừng mực nào đó, qua cơn hoạn nạn này, các doanh nghiệp sẽ trưởng thành hơn rất nhiều về mọi phương diện. Còn hy vọng nào quan trọng hơn?

TS. Lâm Chí Dũng