Đây là những doanh nhân tiêu biểu của những năm đầu thế kỷ XX. Họ là người đặt nền tảng cho phương thức kinh doanh thời hiện đại ở Việt Nam.

Thế kỷ XX đang lùi xa và thay vào là sự phát triển hiện đại về mọi mặt của thế kỷ XXI. Nhưng nhiều thế hệ người Việt Nam vẫn chưa quên được những sự kiện trọng đại dân tộc từng đi qua.

Thế kỷ trước đã chứng kiến dân tộc đấu tranh đi lên để thoát khỏi ách đô hộ của đế quốc phương Tây, đồng thời là thế kỷ mở màn tầng lớp doanh nhân hiện đại với những tên tuổi lừng danh như Trương Văn Bền, Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà,…

Nhà công nghiệp Trương Văn Bền (1883 – 1956)

Quê của ông ở Chợ Lớn (Thành phố Hồ Chí Minh), xuất thân từ một gia đình thủ công, năm 1918 ông đã lập nhà máy nấu dầu dừa, sản xuất xà phòng, glycerin hàng ngàn tấn mỗi tháng (đây là các nhà máy sản xuất xà phòng và kỹ nghệ dầu lớn nhất Đông Dương thời đó).

Là người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền thuộc một gia đình khá giả. Ông có đi Pháp nhiều lần, nhưng chưa học qua một trường chuyên nghiệp nào. Theo bảng lượng giá để đánh thuế của Phủ toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội, thì năm 1941, ông Trương Văn Bền phải đóng cho chính phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng (trong khi đó, giá vàng khoảng 60 đồng/lượng).

Trương Văn Bền là người Việt đầu tiên lập ra hai nhà máy xay lúa công suất trên 100 tấn gạo mỗi ngày và Tổng Giám đốc Công ty Trồng lúa Tháp Mười mà có một sở điền rộng tới 10.000 ha. Ông cũng hợp tác trong việc chích lấy nhựa thông và phục hồi những khu rừng quanh Đà Lạt, sản xuất mỗi năm khoảng 30 tấn dầu thông cùng hàng trăm tấn tùng hương.

Từ năm 1918 đến 1945, ông sáng lập, làm chủ tịch hoặc thành viên chính của nhiều hiệp hội kinh tế, tài chính, lúa gạo, công nghệ hoặc thành viên chính của nhiều hiệp hội kinh tế, thương mại, tài chính, lúa gạo, công nghệ, bến cảng lớn ở Nam Kỳ và Đông Dương. Là một đại gia công nghiệp, ông góp tâm sức rất lớn cho việc phát triển nền thương mại, kỹ nghệ và nông nghiệp miền Nam nửa đầu thể kỷ XX.

Tên tuổi Trương Văn Bền gắn liền với cục xà bông thơm: “Xà bông cô Ba”, hay cục xà bông đá: xà bông Việt nam để giặt đồ, phổ thông khắp cả 3 miền đất nước, lên tận Miên, Lào. Xà bông thơm “Cô Ba” nổi danh trong mấy thập niên liền, đủ sức đánh bạt xà bông ngoại hoá, nhập cảng từ Pháp.

Xà bông Cô Ba.

Ông có một lối đi riêng làm gương cho những người đi sau như Trần Thành, vua lúa gạo Chợ Lớn, ông Trương Văn Khôi, vua bột giặt Viso, ông Nguyễn Tấn Đòi, vua ngân hàng…

Xếp hạng sự giàu có của Trương Văn Bền với những người cùng thời, thì gia sản của ông tương đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre, ông Kho Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đình Lâm Quang ở Trà Vinh. Người giàu nhất Lục danh thời ấy là Hội đồng Trần Trinh Trạch, tục danh Hội đồng Tó (giàu gấp 4 lần ông Bền và ông Kiểng)

Trương Văn Bền còn nổi tiếng là một doanh nhân nhạy cảm trong thương mại, nhìn xa thấy rộng bởi biết rõ tiềm năng kinh tế Việt Nam còn bị lãng quên: cây dừa. Từ năm 1918, ông Bền đã lập xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1500 tấn Cùng lúc đó, tại cù lao An Hoá, quận Bình Đại cũng mọc lên xưởng ép dầu dừa của ông Nguyễn Thành Liêm. Ông Liêm là thân phụ ông Nguyễn Thành Lập, thành viên góp vốn cho ngân hàng Việt nam, và từng làm Bộ trưởng Tài Chánh nhiều chính phủ. “Xà bông VN 72% dầu” nổi tiếng, phổ thông khắp mỗi làng mạc, thôn xóm.

Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập tại địa chỉ “Quai de Cambodge” (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi tháng. Từ khi “Xà bông cô Ba” tức xà bông thơm đầu tiên của Việt nam, để tắm gội ra đời, có sức đánh bạt xà bông thơm của Pháp, nhập cảng từ Marseille nhờ phẩm chất tốt, giá thành thấp.

Trên thương trường, ông Bền có chủ trương riêng để tạo uy tín là phải giữ phẩm chất tốt, bền bỉ. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giật, ăn xổi ở thì. Mặc đầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp.

Khi máy giặt được phát minh và nhập cảng vào Việt nam, ông Bền cũng liền sản xuất loại bột giặt để thích ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, và bột giặt “Việt nam” của hãng xà bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành hãng xà bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt của Mỹ nhập cảng.

Xà bông “Cô Ba” có in hình nổi trên cục xà bông thơm, trong một hình oval. Ngoài hộp xà bông bằng giấy carton cũng có in hình người đàn bà đẹp đó. Nhiều giai thoại kể lại rằng người đàn bà in hình trong cục xà bông thơm và nhãn hiệu đó chính là người vợ thứ của ông Bền. Một nguồn tin đồn khác kể lại “Cô Ba “ chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp nhất Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ này. Dầu sao đó cũng là giai thoại và tin đồn không được kiểm chứng.

Điều đáng nói là phương thức kinh doanh của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh “Cô Ba”, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Với sự ra đời của hãng xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt Nam hãnh diện được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai.

Các xưởng ép dầu, xưởng làm xà bông, thâu nhận và tạo công ăn việc làm cho trên 200 công nhân. Khi công việc làm ăn phát đạt thêm, ông Bền còn xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (trước năm 1975 đổi thành Minh Mạng-Hùng Vương).

Ngoài việc sản xuất xà bông, ông Bền còn lập nhà máy sản xuất một thứ phó sản, một thứ chất nhờn gọi là glycérine, công xuất mỗi tháng 10 tấn. Ngoài công việc kỹ nghệ, ông Bền còn chứng tỏ khả năng trong lâm nghiệp và canh nông. Ông hợp tác với Viện nghiên cứu Nông Nghiệp Đông Dương, để ươm cây con gây rừng thông, hàng tháng tới 30 tấn, tại Đồng Nai Thượng, tức tỉnh Lâm Đồng ngày nay.

“Cậu ký” đường thủy Bạch Thái Bưởi

“Ông vua đường thủy” Bạch Thái Bưởi (1874-1932) được coi là một doanh nhân kiệt xuất của đất Việt, biết khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng, có ý thức dân tộc.

Bạch Thái Bưởi là con một gia đình nông dân nghèo tại làng An Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Đông – Hà Nội). Cha mất sớm, nên ông phải giúp mẹ sinh sống bằng nghề bán hàng rong. Lúc ấy có một nhà phú hào họ Bạch thấy ông thông minh, lanh lợi, nên nhận làm con nuôi và đổi lại họ Bạch. Nhờ đó, ông có cơ hội ăn học.

Học xong ông xin làm chân thư ký cho một hãng buôn người Pháp ở phố Tràng Tiền (Hà Nội), sau đó sang làm với một hãng thầu công chánh. Chính ở những nơi này, cậu ký Bưởi đã học được cách tổ chức, quản lý sản xuất và tiếp xúc với thiết bị, máy móc.

Không chịu an phận, ông quyết tâm đi vào con đường kinh doanh, bắt tay xây dựng cơ nghiệp riêng. Người Pháp xúc tiến việc mở đường sắt nối liền Bắc-Nam, Bạch Thái Bưởi dốc hết vốn liếng dành dụm bấy lâu hùn với một người Pháp vào việc lãnh thầu cung cấp tà-vẹt cho công trình này. Suốt 3 năm ròng, ông lùng khắp rừng sâu, lũng thấp tìm cho được gỗ thật bền, thật tốt để đáp ứng yêu cầu, gây uy tín với người Pháp.

Sau đó, ông xin mở dịch vụ cầm đồ ở Nam Định. Ông phải đem tất cả tài tổ chức, kinh nghiệm ra cạnh tranh với doanh nhân người Hoa trong lĩnh vực này. Nhân viên toàn người Việt, lại ăn nói, cư xử nhã nhặn, tiền chịu lời phải chăng, cho nên dù bị nhà cầm quyền làm khó dễ đủ điều, thương khách người Hoa chờ ông vỡ nợ…, nhưng khách hàng của ông vẫn ngày một đông.

Thừa thắng, ông dấn thân vào ngành in ấn vốn là nghề hoàn toàn mới lạ đối với ông, nhưng khi thấy xã hội có nhu cầu, ông vẫn bỏ tiền ra mở “Công ty in và Xuất bản Bạch Thái Bưởi”, xuất bản tờ “Khai hóa nhật báo” nhằm cổ động phong trào thực nghiệp ở nước ta.

Năm 1909, Bạch Thái Bưởi quyết tâm lao vào một lĩnh vực kinh doanh mới là vận tải đường sông. Chính từ đây, ông vươn lên đỉnh cao trong sự nghiệp kinh doanh, trở thành “Vua sông biển Đông Dương” và là một trong “tứ đại gia” lừng lẫy thời đó.

Vào nghề sông nước, để đương đầu với các đối thủ người Pháp, Hoa có thế lực mạnh, lại giàu kinh nghiệm hơn nhiều lần, Bạch Thái Bưởi đã sử dụng thế mạnh tinh thần: vận động, kêu gọi mọi người ủng hộ công cuộc kinh doanh của người Việt, “ta về ta tắm ao ta”.

Cuối cùng nhờ vậy, đội tàu của ông không những vượt qua sóng gió mà còn lớn mạnh, được bổ sung bằng những đội tàu của công ty Pháp, Hoa bị phá sản như: Marty d’Abbadie, Desch Wanden… Năm 1915, ông còn mua lại xưởng đóng và sửa chữa tàu của R.Marty.

Sau 7 năm kinh doanh trên sông nước, Bạch Thái Bưởi đã tạo dựng một cơ ngơi khép kín từ chạy tàu đến đóng tàu, sửa chữa tàu và các chi nhánh ở nhiều nơi. Năm 1916, ông chuyển trụ sở từ Nam Định vào Hải Phòng rồi bắt đầu mở rộng tầm hoạt động khắp Đông Dương và các vùng lân cận như Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật, Singapore…

Nhưng đỉnh cao phát triển của công ty là khoảng cuối thập niên 1920 đầu 1930, khi ấy công ty có trên 40 con tàu, với số lượng nhân viên lên tới 2.500 người làm việc trên các đội tàu, xưởng đóng tàu. Văn phòng và chi nhánh của công ty có ở các thành phố lớn như Hà Nội, Nam Định, Tuyên Quang, Việt Trì, Bến Thủy, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Sài Gòn…

Các mỏ than lúc bấy giờ đều nằm trọn trong tay người Pháp, vậy mà ông vẫn liều mạng xông vào trận địa này và không bao lâu, than của ông chất thành núi (đến năm 1945 mới bán hết), ông trở thành “Vua mỏ nước Việt”.

Với đầu óc thực tế, tầm nhìn xa, ông còn dự định tạo dựng nhiều công trình như: xây một nhà máy xay gạo ở Nam Định với những thiết bị tân tiến mua tận Hambourg (Đức), chương trình đặt ống cống, xây nhà máy nước, dựng nhà máy điện cho thành phố Nam Định và cả việc đặt đường sắt Nam Định – Hải Phòng, nhưng vì hoàn cảnh, vì chiến tranh, nên ông không thực hiện được.


“Ông tắc kè” Gecko – Nguyễn Sơn Hà

Nguyễn Sơn Hà là đại biểu nổi tiếng đến từ Hải Phòng tại Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hãng sơn Gecko với logo đầy ấn tượng: một chú tắc kè đang uốn cong đuôi và bốn chân bám chắc lấy thân cây cổ thụ xù xì.

Hãng sơn Gecko với logo đầy ấn tượng.

Không chỉ ở Hải Phòng mà ở cửa ga Nam Định, và giữa quảng trường ngã sáu chợ Hàng Da, phố Đường Thành (Hà Nội), ai ai đi qua hay vòng lại cũng phải chú ý ngắm nhìn lên “chú tắc kè” to lớn, da sần sùi mà bóng nhẫy mầu sơn xanh lá cây: “Đấy, cửa hàng chính của hãng sơn Gecko đấy”.

Nguyễn Sơn Hà xuất thân nghèo khổ. Tám tuổi bỏ làng ra tỉnh kiếm sống bằng mọi nghề vất vả nhất. Kiếm được đồng vốn dắt lưng, và nhất là có con mắt tinh đời, có cái đầu biết nghĩ, cậu xin được làm một chân phụ thợ nề; từ chân thợ nề quét vôi trát vữa, cậu học lỏm được nghề sơn cửa, sớm nhận biết được bí quyết pha chế các loại sơn thế nào vừa mỏng lớp, lại vừa bền màu.

Rồi cậu chuyển ngay sang nghề mới: pha chế sơn, bán lẻ cho các tốp thợ mộc, thợ nề quanh năm suốt tháng có mặt ở các phố phường từ Lạch Tray lên Chợ Sắt đang nườm nượp mở cửa hàng bán buôn, bán lẻ.

Chẳng mấy chốc, các cửa hiệu và cả cửa kính, cửa chớp chạy dài Cầu Đất, Hàng Kênh cho đến Phố Khách, hai bờ Sông Lấp, chỗ nào cũng thấy thợ sơn ưa dùng và chọn mua hàng của “lò Sơn Hà”.

Thế là đã đến lúc, cậu hùn vốn chung với mấy người làng, mở xưởng nấu và pha chế sơn. Ba năm sau, hãng sơn lớn do ông làm chủ đã hình thành và ngày càng khẳng định được thương hiệu.

Ông là người có lòng căm thù Tây, Nhật. Nhưng nghĩ mình sức mỏng, thân cô thế yếu, thôi thì cứ vo tròn, lo phận mình chắt chiu, chỉ miễn sao “họ” để cho mình yên là ổn. Con trai ông theo cách mạng. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, cùng với toàn thể anh chị em trong hãng sơn, hai cha con ông cùng đi trong hàng ngũ trùng điệp mười vạn con người thành phố Cảng giành chính quyền, đồng thời chào mừng Uỷ ban nhân dân lâm thời của thành phố. Khi cách mạng thành công, ông được bầu làm Bộ trưởng Kinh tế quốc dân – Nguyễn Mạnh Hà.

Cuối năm 1945, ông Nguyễn Sơn Hà được nhân dân Hải Phòng bầu làm đại biểu Quốc hội. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông Nguyễn Sơn Hà được tham dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội khoá I.

Ngô Tử Hạ (1882-1973) – Doanh nhân yêu nước, gặp thời

Quê ông ở Qui Hậu, Kim Sơn, Ninh Bình, rời quê hương nghèo đói lên Hà Nội lập nghiệp, làm thợ cho nhà in IDEO của Pháp từ năm 17 tuổi. Ngô Tử Hạ lấy vợ sớm, rồi chẳng may vợ chết, chàng trai họ Ngô mới 17 tuổi đã phải nuôi hai đứa con côi. Quẫn bách quá, Ngô Tử Hạ đành đem con gửi ông chú ruột nuôi hộ, rồi tìm đường ra Hà Nội kiếm kế sinh nhai. Lúc đầu Ngô Tử Hạ nhận làm cho một cơ sở in vỏ bao thẻ hương. Dành dụm từng đồng tiền kiếm được, vài năm sau anh thợ Ngô Tử Hạ mua một chiếc máy in thẻ hương, tự mình làm một cửa hàng in, rồi về quê đón hai con lên Hà Nội.

Chẳng bao lâu nhân duyên đến với người đàn ông trẻ góa vợ. Ngô Tử Hạ gặp được một bà góa trẻ tuổi, chưa có con song có một khoản vốn liếng kha khá. Cuộc tục huyền giữa ông với bà góa trẻ kia vừa đem lại cho ông mái ấm gia đình mới, vừa tạo dựng cho ông vốn liếng để ông mở mang nghề in, một nghề ông đã thấy thân quen, yêu thích và dự đoán có nhiều triển vọng khá lên.

Tích tiểu thành đại, gần nửa thế kỷ lập nghiệp ở Hà Nội, trước ngày Tổng khởi nghĩa, Ngô Tử Hạ đã trở thành nhà tư bản ngành in và bất động sản hàng đầu xứ Đông Dương.

Năm 25 tuổi, ông lập nhà in riêng trở thành tư sản dân tộc có 2 nhà in ở Hà Nội và ở Huế. Ngô Tử Hạ còn tham gia làm báo: ông là chủ nhiệm báo Đông Thanh và tham gia trị sự báo Nam Phong.

Ngô Tử Hạ rất căm ghét thực dân Pháp xâm lược và thường giao hảo với những chí sĩ có lòng yêu nước như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn v.v…

Cụ Ngô Tử Hạ - Khăn xếp, áo đen.

Nhà tư sản dân tộc Ngô Tử Hạ đã phải trải qua một quá trình nỗ lực không mệt mỏi với ý chí kiên định đáng nể phục để tự mình vượt lên khỏi thân phận đói nghèo, đồng thời đóng góp vào việc đặt những viên gạch nền móng xây dựng công nghệ, kinh tế Việt Nam, tỏ rõ ý chí tự lực tự cường cùng với các nhà tư sản dân tộc khác như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà.

Ngô Tử Hạ bắt đầu sự nghiệp với việc nhận làm cho một cơ sở in vỏ bao thẻ hương. Công việc nặng nhọc, vất vả mà đồng lương chẳng được là bao song Ngô Tử Hạ vẫn kiên nhẫn ở lại làm.

Sau vài năm vất vả, dè sẻn chi tiêu, Ngô Tử Hạ đã dành dụm đủ tiền mua được một chiếc máy in thẻ hương. Anh bèn thôi làm thuê, mà tự mình in thuê vỏ bao thẻ hương. Cứ cần mẫn, dè sẻn thế, rồi cha con Ngô Tử Hạ cũng có tiền mua thêm một vài chiếc máy gỗ in vỏ bao hương nữa, mượn thêm thợ làm.

Từ bỏ lối làm nghề cò con với những chiếc máy in làm bằng gỗ đơn giản chỉ in được vỏ bao thẻ hương, Ngô Tử Hạ quyết hiện đại hoá dần việc kinh doanh nghề in của mình. Ông mua những chiếc máy in được xem là hiện đại thời bấy giờ, chưa đủ tiền mua nhiều máy, thì ban đầu mua ít, tích luỹ vốn được kha khá nhờ quản lý tốt và tiết kiệm trong chi phí kinh doanh cũng như trong sự tiêu dùng hàng ngày của gia đình, ông lại bỏ tiền ra mua thêm máy in mới.

Cơ sở đặt máy, lập nhà in, trước ông đi thuê, sau ông mua hẳn một khu đất rộng bên đường phố Lý Quốc Sư, gần đền thờ Lý Triều Quốc sư, lại cũng gần Nhà thờ lớn Hà Nội để xây dựng nhà in. Vị trí nhà in đắc địa, máy in nhiều và hiện đại, thợ in đông, giải quyết chóng vánh, chất lượng các hợp đồng in, uy tín của nhà in Ngô Tử Hạ ngày một được khẳng định.

Theo các bậc cao niên đã từng làm việc trong nhà in Ngô Tử Hạ kể lại thì Ngô Tử Hạ là một ông chủ nhà in giản dị trong sinh hoạt, nhưng rất nghiêm khắc trong công việc. Đó cũng là ông chủ nhà in ngoài thời gian giao tiếp tìm mối hàng với khách hàng ra, thì ngày ngày luôn luôn xuống xưởng in hay làm việc với bộ phận thư ký quản lý, tiếp thị của nhà in.

Với bộ phận thư ký, ông bàn bạc, hỏi han, lắng nghe ý kiến mọi người, cùng họ cân nhắc từng mối hàng, hợp đồng rồi dành cho mình quyền quyết định trên cơ sở làm chắc, ăn chắc.

Sự xem xét kỹ càng, quyết định thận trọng ấy, cộng với việc đặt tiêu chuẩn kỹ thuật lên hàng đầu, đã khiến cho nhà in Ngô Tử Hạ kinh doanh chắc chắn, hầu như chỉ có lãi, gây được uy tín với khách hàng, họ tìm đến đặt in ở nhà in ông Ngô Tử Hạ ngày một nhiều thêm, đủ cả khách hàng trong nước, lẫn khách hàng từ nước ngoài, nhất là nước Pháp. Nhà in Ngô Tử Hạ cứ thế lớn mạnh lên.

Nền kinh tế đất nước đã và đang trên đà phát triển, doanh nhân nay đã khác xưa nhiều thứ, nhưng những tấm gương của doanh nhân đầu thế kỷ XX vẫn luôn toả sáng về ý chí quyết tâm làm giàu, lòng yêu nước và điều đáng quý nhất là họ đã xây dựng lên nền tảng cơ bản cũng như những phép tắc trên thương trường của doanh nhân thời hiện đại ở Việt Nam.

Hà Anh