11 – Nguyễn Cao Kỳ trước biến động miền Trung 1966

Đang còn đắng họng vì “bữa cơm của dân nghèo” không rượu không gái do thị trưởng Đà Nẵng bày ra khoản đãi để chửi khéo, Nguyễn Cao Kỳ lại bị thêm một vố đau khác trong chuyến thăm Huế vào ngày hôm sau 2.3.1966.

Tại Huế, ông ta có buổi tiếp xúc với thân hào nhân sĩ và các đoàn thể nhân dân ở Tòa đại biểu chính phủ bên sông Hương. Không khí cuộc gặp mặt được hâm nóng bởi phát biểu “có lửa” của ông Hồng Dũ Châu:

– Thưa thủ tướng “Chính phủ của dân nghèo” ra đời tại Sài Gòn đã 8 tháng nay. Suốt thời gian ấy chưa thấy làm được gì cho dân nhờ, chỉ thấy nay lệnh này mai lệnh khác trái ngược nhau, khiến chúng tôi bối rối không biết lệnh nào đúng mà thi hành. Gạo cơm tiếp tế cứ bị thiếu hụt mãi…

Mặt ông Kỳ tái dần theo lời bài bác cái chính phủ quá “nghèo” do ông làm thủ tướng. Mà chính ông, khi đảm nhiệm chức vụ ấy cũng không tin mình làm tròn. Bằng chứng là 26 điểm trong chương trình hành động của “chính phủ” không thực thi được: “Tôi công nhận quá non không biết gì hết”. Ông tự xét mình một cách thảm hại với Trần Văn Đôn như thế và Đôn chép lại trong hồi ký của mình.

Rồi việc cho dựng 5 cây trụ trước chợ Bến Thành để lập “pháp trường cát” thi hành án tử hình, bị dư luận quở rằng bắn người công khai giữa chợ là vô nhân đạo nên phải dẹp. Nghĩa là nhiều chuyện đáng bị công kích, đánh đổ, nhưng thời gian đầu xem chừng vẫn sóng êm bể lặng.

Nguyễn Cao Kỳ viết: “Ấy vậy mà chẳng có một âm mưu đảo chánh nào để lật đổ tôi hoặc một sự chống đối ầm ĩ nào cả. Có thể nào lại xảy ra trường hợp người không chuyên nghiệp đã thành công trong công việc mà người lành nghề đã bị thất bại chăng?”. Nay “người không lành nghề” ấy qua hội nghị Honolulu nhờ nhà chính trị “lành nghề” và “tâm đầu ý hợp” là tổng thống Johnson ra tay đạo diễn giúp nổi bật trên chính trường Sài Gòn. Nhưng đến Huế lại bị dân miền Trung chống đối, như ông Hồng Dũ Châu vạch:

“Xin thưa thật với thủ tướng rằng chính phủ ông thật xứng đáng là chính phủ của dân nghèo vì sau 8 tháng ông cầm quyền, dân đã nghèo lại nghèo thêm”.

Theo Nguyễn Chánh Thi, ông Kỳ không nén nổi cơn giận “quên cả cương vị thủ tướng của mình, xông ra ngắt lời ông Hồng Dũ Châu, sừng sỏ như sắp đi đánh lộn ở một tiệm nhảy đầm nào đó.

–  Ông là cái thớ gì mà dám nói với một vị thủ tướng chính phủ như thế? Đồ vô phép! Câm mồm!

Mọi người hiện diện đều giận tím mặt. Nếu có ai hô lên một tiếng chắc Cao Kỳ không nguyên vẹn mà về lại Sài Gòn”

Trước đó một ngày, ở Đà Nẵng, khi Kỳ hăm dọa Thi, trung tá Lê Ngọc Uyển (Quân vụ thị trấn) và đại tá Đàm Quang Yêu (chỉ huy trưởng biệt khu Quảng Đà) đã “gai mắt” muốn bắt giam Kỳ đột ngột chơi. Trung tá Uyển mở miệng gợi ý trước:

–  Cái thằng cao bồi này khó dung tha. Xin trung tướng (Thi) cho phép chúng tôi bắt nó nhốt lại, xem quan thầy nó cứu nổi nó không?

Thi làm mặt nghiêm, ngăn Uyển. Nay ở Huế, Thi lại đứng ra “can gián đôi bên cho xong chuyện”. Thời điểm đó ở vị trí tư lệnh Quân đoàn I Vùng I chiến thuật, ông Thi đối diện trước cuộc đấu  tranh đòi dân chủ chống Kỳ, Thiệu, Có (Kỳ lúc này đang “nổi” hơn Thiệu) của dân miền Trung.

Tin tức liên quan đến việc Mỹ mở rộng chiến tranh, tướng Maxwell Taylor đề nghị tiến hành phong tỏa cảng Hải Phòng bằng mìn, Westmoreland đòi tăng mạnh tăng nhanh quân số Mỹ vào Việt Nam, đã khơi dậy ngọn lửa đấu tranh đòi hòa bình. “Phe đối phương” tập kích hàng loạt đồn bót dọc ranh giới vùng Bến Hải; súng nổ giao tranh khắp nơi từ Cam Lộ, Khe Sanh đến Mộ Đức, Đức Phổ. Xe jeep chở Thi trúng mìn trên đường đi Hội An khiến tài xế chết, một đại tá ngồi trên xe bị thương nặng.

Thi may mắn thoát hiểm đâm ra nghĩ ngợi: “nhiều nguy hiểm đang chờ đợi mình”, mìn của “đối phương” gài hay của “phe ta”? Ông viết rằng tâm trạng ông những ngày tháng đó thật rối bời, vì bên ngoài quân “đối phương” đánh tơi bời, bên trong “toàn những phản bội rình rập (…) có nhiều lúc tôi chỉ mong mình trúng quách một trái B40 cho nó…nhẹ nợ!”. Nhưng vẫn phải sống đến ngày Kỳ đạp ngã ông để dẹp đường đưa quân từ Sài Gòn ra bắn thẳng vào dân miền Trung tranh đấu.

Kỳ viết: “Đến tháng 3.1966 (sau chuyến đi miền Trung xui xẻo kể trên của ông) đã xảy ra những cuộc biểu tình trong nhiều thành phố lớn, đặc biệt là ở Huế và Đà Nẵng (…). Những người Phật tử đòi tổ chức bầu cử tự do”. Điều mà ông Kỳ cho “tệ hại” và đáng lo ngại là binh sĩ của Quân đoàn I do ông Thi làm tư lệnh có thể từ chối không chịu đánh nhau với những người dân tham gia đấu tranh có vũ trang. Thậm chí báo cáo mật cho thấy dấu hiệu các chỉ huy cao cấp nhất của Quân đoàn I đang có xu hướng đứng về phía dân chúng nên nguy cơ binh biến thật sự chờn vờn trong giấc ngủ của Kỳ.

Ông ta nhướng mắt về hướng Hoa Thịnh Đốn và phần nào yên tâm vì “người Hoa Kỳ ủng hộ hành động và các kế hoạch của tôi; đại sứ Lodge đã nhận thấy được là tôi không còn có cách gì khác hơn là phải củng cố chính phủ bằng biện pháp gạt ra ngoài những phần tử chống đối”.

Qua hồi ký, khi kể lại giai đoạn đó, Nguyễn Cao Kỳ vẫn còn dùng những lời lẽ hậm hực, khích bác các thượng tọa lãnh đạo cuộc đấu tranh của Phật tử và khen “Tổng thống Johnson đã sáng suốt làm ra vẻ như không nghe những lời kêu gọi của họ”. Tuy vậy “họ” (những lãnh tụ đấu tranh) có lợi thế được tư lệnh các tỉnh miền Trung là Nguyễn Chánh Thi ủng hộ. Kỳ cho biết đã chăm chú theo dõi Thi từ lâu: “Hàng ngày tôi đều nhận được bằng chứng là thay vì duy trì trật tự tại vùng Huế – Đà Nẵng trong tình hình đang hết sức sôi động. Thi trái lại đã giúp đỡ cho những người Phật tử…”

Kỳ không thể chịu đựng hơn nữa những hình nộm được dân chúng và thanh niên sinh viên học sinh dựng lên bêu rếu mình khắp nơi: “Tôi đã bị gán cho là bù nhìn của Mỹ và trên tường trong nhiều thành phố đã xuất hiện dòng chữ rất quen thuộc “Người Mỹ hãy cút đi!”. Hình ảnh “nhức mắt” đó xảy ra thường xuyên trên “lãnh địa” do Thi làm tư lệnh, Kỳ hạ bút: “Rõ ràng là Thi đang nuôi tham vọng muốn trở thành một lãnh chúa của thời xa xưa!”.

12 – Bị kết tội cát cứ miền Trung, cặp bài trùng “Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi tan vỡ”

Cặp bài trùng Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi

Một dạo báo chí Sài Gòn gọi Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Chánh Thi là cặp bài trùng trong “nhóm tướng trẻ”. Họ để râu, mặc quân phục, ảnh chụp xa xa trông giông giống nhau. Kẻ trước người sau lần lượt nắm hai binh chủng “anh em”: nhảy dù “anh cả đỏ” (Thi), không quân (Kỳ).

Ngày ông Thi mưu đảo chính Ngô Đình Diệm vào 11.11.1960 đem lực lượng nhảy dù uy hiếp Sài Gòn, vây khốn dinh Độc Lập, chiếm Tân Sơn Nhất. Căn cứ không quân lọt phũm trong tay đại tá Thi – lúc đó Kỳ mới thiếu tá. Không may, ông Diệm – Nhu dùng kế “giả hòa”, hứa từ chức để lập chính phủ “đoàn kết quốc gia”, rồi ngầm sai quân phản công. Thi trúng kế, biết mặt trận sắp vỡ, rút khỏi các vị trí then chốt ở trung tâm “thủ đô”, chạy về căn cứ không quân gặp Kỳ, bảo:

–        “Kỳ, chúng tôi đã thất bại! Chúng tôi phải thoát khỏi nơi đây một cách nhanh chóng bằng không thì Diệm sẽ chém đầu chúng tôi!”.

Phải có ngay một chiếc máy bay để nhóm Thi trốn sang Campuchia. Kỳ viết: “Tôi muốn giúp đỡ họ, lúc nào nhảy dù và không quân cũng rất thân thiết với nhau vì tính chất của công việc làm. Thế nhưng tôi không thể nào đích thân lái máy bay chở họ đi vì nếu làm thế, tôi sẽ không bao giờ trở lại Việt Nam được”. Làm sao đây? Kỳ cố tìm một lối thoát và sau “vài phút lưỡng lự” đã quyết định:

“Tôi (Kỳ) “cho” ông ta (Thi) một chiếc DC3, thế là 15 người trong nhóm âm mưu đảo chính đã được trốn đi. Dĩ nhiên là tôi không bao giờ lấy lại được chiếc máy bay đó và Diệm đã tỏ ra nghi ngờ”. Phe Thi bắt giữ trung tướng Thái Quang Hoàng “tư lệnh biệt khu thủ đô” để làm con tin. Dinh Độc Lập lệnh hai phi cơ khu trục đuổi theo chiếc máy bay của nhóm Thi xem họ đi về hướng nào. Đến biên giới Campuchia bắt kịp Thi, hai khu trục cơ điện về xin chỉ thị dinh Độc Lập có nên bắn hạ hay không. Lúc đó Nguyễn Khánh nghe bà Ngô Đình Nhu đứng bên cạnh la lên “Bắn rơi chiếc máy bay đó đi. Giết hết tụi nhảy dù phản nghịch!”.

Khánh không đồng ý với bà Nhu, bảo bà ta với giọng bực dọc: “Tôi là tổng tư lệnh ở đây. Xin bà để tôi quyết định”. Và ông Khánh ra lệnh cho hai khu trục cơ quay về. Người ta thường nhắc đến chi tiết đó với lời khen Nguyễn Khánh bộc trực. Máy bay Thi do đại úy Phan Phụng Tiên lái xin hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong.

Dưới đất điện hỏi: “Máy bay nước nào?”. Đáp: “Air Việt Nam”. Phía Campuchia yêu cầu cho biết chắc chắn danh tánh, xuất xứ, số hành khách và lý do hạ cánh. Không dài dòng bất tiện, dòm thấy phi đạo trống, họ quyết định không trả lời và liều lĩnh hạ cánh xuống phi trường Pocheng Tong. Đồng hồ điểm 13 giờ ngày 12.11.1960. Cơ quan an ninh cảnh sát Campuchia có mặt ngay, tịch thu súng đạn và tất cả mọi thứ, dẫn về khu trại vãng lai dành cho sĩ quan.

Họ làm thủ tục tỵ nạn chính trị (3 năm) và thả trung tướng Thái Quang Hoàng quay về Sài Gòn vài ngày sau đó. Chiếc máy bay của Nguyễn Cao Kỳ đã “linh động” đưa Thi thoát đi nằm phơi mình trên đất Chùa Tháp như một gợi nhớ Sài Gòn xa xăm. Kỳ sau đó phải trả lời chất vấn của dinh Độc Lập. Ông ta đáp vì tình thế bắt buộc và bị binh lính vũ trang của Thi uy hiếp. Được thêm Đỗ Mậu che chở nên về sau việc ấy cũng êm. Đó là kỷ niệm thời trẻ của họ, năm ấy Thi mới 36 tuổi.

Vào 1963, Thi về Sài Gòn. Đến 1964, họ nổi bật giữa “nhóm tướng trẻ”. Sang 1965, khi Kỳ làm “thủ tướng”, họ có khoảng cách…Đến 1966, Kỳ (và Thiệu) thực sự muốn “nhổ” cái đinh chướng mắt: Thi. Họ ra mặt cạch nhau. Báo chí đưa nhiều tin bài về sự vỡ đôi của “cặp bài trùng”. Tờ Tia Sáng chẳng hạn, đi tít lớn: “Tướng Kỳ nhất quyết hạ tướng Thi: khu trục cơ mang hỏa tiễn bay rợp trời Sài Gòn yểm trợ cho đề nghị cách chức tướng Thi của ông Kỳ!”. Việc xảy ra tháng 3.1966 theo tóm lược dưới đây:

Bệnh “đau mũi” rất dễ lây trong bầu khí thanh trừng của Sài Gòn 1966

Nhóm Kỳ (và Thiệu) giăng bẫy sẵn tại Sài Gòn, ngày 9.3.1966 “đạt” giấy mời Nguyễn Chánh Thi rời miền Trung vào họp. Trước đó trùm CIA Rib Robinson đến văn phòng ông Thi nói thẳng những “ghi nhận” không lành về ông, như: tinh thần “chống Mỹ” ngày càng rõ (chống hội nghị Honolulu), làm ngơ và khuyến khích dân miền Trung bất hợp tác với “chính quyền trung ương” ở Sài Gòn để mưu cát cứ Huế, Đà Nẵng…

Vì vậy Thi biết chuyến đi này được Mỹ và Sài Gòn bàn trước. Đến Bộ tổng tham mưu lúc 9 giờ 30 sáng 10.3, nhiều xe thiết giáp đậu sẵn ngoài cổng, máy bay gầm rú trên không, Thi viết: “Tôi phản ứng lại còn kịp, nhưng không muốn…”. Vào phòng họp, Nguyễn Hữu Có nã ngay:

–  Từ ngày anh Thiệu, anh Kỳ lên cầm quyền, ông Thi đã gây quá nhiều rắc rối. Mệnh lệnh của trung ương, ông không thi hành.

Lê Nguyên Khang, Nguyễn Bảo Trị …nói hùa theo để Nguyễn Cao Kỳ đứng lên “gút”: – Tôi hết chịu nổi rồi! Nếu quý vị còn tín nhiệm tôi thì ông Thi phải ra đi. Một là ông Thi đi, hai là tôi đi.

Đi đâu?

Một là “đi” khỏi chức vụ đương nhiệm.

Hai là đi ra nước ngoài “chữa bệnh”.

Cả “hai thứ đi” đó phải diễn ra tương tục, không gián đoạn, và phải được “hội đồng tướng lĩnh” thông qua. Nguyễn Cao Kỳ nêu ý kiến “bỏ phiếu kín”(!). Tới đó, Thi đứng dậy, bước khỏi phòng họp. Mặc kệ họ! Sáng hôm sau 11.3, Thi ra ngoài phi trường Tân Sơn Nhất định về lại Đà Nẵng. Nhưng vừa tới sân bay đã thấy Nguyễn Hữu Có, “tổng ủy viên quốc phòng”, đích thân chỉ huy một đám lính, giơ súng chặn Thi lại, buộc phải quay về Bộ tổng tham mưu. Về đó có Nguyễn Văn Thiệu chờ sẵn tại cửa phòng Cao Văn Viên, miễn cưỡng bắt tay Thi và nói: – Thôi, toa chịu khó ở lại đây vài hôm. Hình như Mỹ đã bằng lòng mời toa đi “chữa bệnh” kia mà!

Ai đứng ra “mời”?

Ngay ngày hôm đó, Nguyễn Ngọc Loan và Văn Văn Của mang bức thư của tướng Westmoreland đến trao Thi, nội dung: “Dear General Thi, I understand that you are interested in securing medical attention in the United States…” (Tướng Thi thân. Tôi được biết ông đang quan tâm tới việc được khám bệnh tình tại Mỹ nên tôi nghĩ ông có thể hoan hỉ đón nhận lời mời của tôi (để rời Việt Nam đến Mỹ) nhân danh Ngũ Giác Đài để được khám bệnh tổng quát và chữa trị cần thiết. Nếu đề nghị này được ông đồng ý, xin nhắn lại cho tôi được rõ và tôi sẽ dàn xếp ngay mọi việc cần thiết. Thành thật cùng ông. Ký tên: Tướng Westmoreland).

Như vậy đã quá rõ, Mỹ trực tiếp “mời” đi. Trước nơi giam lỏng Nguyễn Chánh Thi ở số 9 đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) luôn luôn có xe quân cảnh Mỹ túc trực. Ba ngày sau khi nhận thư Westmoreland, Phạm Văn Liễu (quen với Thi hồi lưu vong ở Campuchia) dẫn đại tá Sam Wilson và ông Ted Britton đến gặp Thi.

Đó là ba người mà ông Thi cho “có thể đối thoại được”. Họ bảo tướng Westmoreland viết thư trên theo “yêu cầu của Nguyễn Cao Kỳ” và gợi ý ông Thi thử về miền Trung một chuyến trước khi qua Mỹ? Ngày 15.3, Kỳ đồng ý để Thi về thăm Đà Nẵng, Huế. Tình hình miền Trung lúc đó sôi bỏng, Kỳ – Thiệu tung tin “Nguyễn Chánh Thi là đầu mối của biến động” và cần phải “trừ đầu mối ấy đi”.

Khoảng nửa tháng sau, khi phong trào đấu tranh dâng cao, Kỳ tuyên bố: “Huế và Đà Nẵng bị cổng sản chiếm đóng!”. Lần này với lối “chụp mũ cối” to tướng đó, Kỳ đang manh tâm chuẩn bị nổ súng thẳng vào mặt dân chúng miền Trung. Quả vậy, ngày 4.4.1966 Kỳ thử cho quân đổ bộ ra Đà Nẵng bằng máy bay nhưng đồng bào phẫn nộ chắn bít các lối vào thành phố. Nguyễn Hữu Có cấp tốc “bay ra” định bụng đàn áp bằng súng đạn, nhưng không hiểu vì đâu lại “bay vào” Sài Gòn ngay. Kỳ phải nhờ Mỹ chở quân lùi về, đóng tại Chu Lai. Viên tướng chỉ huy Nguyễn Văn Chuân chuồn mất (về Sài Gòn), Kỳ và Thiệu đưa Tôn Thất Đính ra thay, ai dè đến Huế, ông Đính tuyên bố chống Thiệu – Kỳ nảy lửa. Hồi ký Nguyễn Chánh Thi ghi lại phát biểu của Tôn Thất Đính với dân Huế nguyên văn:

–        Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, phải cắt cổ những thằng Việt gian bán nước, những tên thời cơ, lừa thầy phản bạn ở Sài Gòn. Chúng nó là lũ tôi tớ ngoại bang, chỉ biết lừa gạt đồng bào và nói láo với quan thầy…

Nghe Tôn Thất Đính tuyên bố, ông Hồng Dũ Châu bảo nhỏ với ông Thi: “Coi bộ không ổn rồi! Thái độ ông Đính thế này thì tất Sài Gòn không tha chúng ta đâu!”

Ông Đính nhận lệnh triệu về Sài Gòn để “họp”. Biết hễ về là nguy, nên ông Đính không thi hành. Nguyễn Chánh Thi viết: “Có lẽ bị ông Đính làm cho điên đầu, Sài Gòn lại tìm cách thương lượng với tôi” và nhờ đại tá Phạm Văn Liễu, trung tướng Phạm Xuân Chiểu ra miền Trung đưa thư tay của Kỳ. Thư mở đầu: “Anh Thi thân mến, sau một thời gian tĩnh dưỡng ngoài đó, tôi tin rằng sức khỏe của anh chắc được dồi dào hơn. Hôm nay, bệnh mũi của anh chắc được đỡ nhiều…”. Thi tức giận bảo viên tướng đưa thư:

–        Bệnh mũi? Tôi có đau mũi bao giờ đâu? Hắn tự bịa ra những chuyện kỳ quái như thế mà nghe được à?

Không có “bệnh mũi” vẫn phải bệnh khác để “đi” Mỹ chữa! Thi vò nát thư, liệng xuống đất. Đồng bào miền Trung đòi bắt Chiểu làm con tin. Chiểu hốt hoảng lên máy bay chuồn về Sài Gòn. Đến nước đó, Kỳ bộc lộ toàn vẹn tính hung hãn võ biển, đưa quân tập kích vào Đà Nẵng với sự yểm trợ của máy bay và xe tăng phun lửa…

13- Cuộc họp bí mật trước giờ tập kích miền Trung

Đoàn thanh niên Đà Lạt tuyên thệ quyết tử năm 1966

Như đã nói trung tướng Tôn Thất Đính – người theo đạo Phật được cử nắm trọng trách tại miền Trung với hy vọng đối thoại dễ dàng hơn cùng các lãnh tụ Phật giáo để làm dịu tình hình. Nhưng đến Huế, tướng Đình đã khuấy nóng “chảo lửa” này lên bằng những lời công kích và hạch tội Thiệu – Kỳ – Có! Ông bỏ nhiệm sở, chống lại lệnh gọi về Sài Gòn và chạy thẳng vào Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tỵ nạn chính trị.

Cay cú, Kỳ và Thiệu bèn chỉ định tướng Huỳnh Văn Cao là tín đồ Công giáo ra Trung thay. Tới nơi, thấy đông đảo quân nhân và công chức ly khai hoặc lãn công chống đối nhà cầm quyền Sài Gòn. Cao bất lực bỏ doanh trại chạy luôn về Bộ tư lệnh thủy quân lục chiến Mỹ ở Đà Nẵng xin tá túc y hệt …tướng Đính!

Chỉ huy trưởng của Bộ tư lệnh Mỹ nói trên là thượng tướng Lewis W.Walt, đồng thời làm cố vấn Quân đoàn I, sau này phản ứng gay gắt với Nguyễn Cao Kỳ trong những giờ đầu Kỳ triển khai cuộc tập kích đàn áp miền Trung. Ông ta không khỏi bất ngờ vì chỉ trong một thời gian ngắn mà phải đón đến hai tư lệnh “tháo chạy tán loạn”: Tôn Thất Đính và Huỳnh Văn Cao.

»Cùng chủ đề
Kinh nghiệm Hàn Quốc

28 Tháng Mười 2016