Dòng di cư ngược bởi Nguyễn Quang

Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, lao động nhập cư là đối tượng mất việc đầu tiên và luồng di cư lao động đang có sự đảo chiều, khiến cho nhiều người lâm vào nghịch cảnh: hôm nay là công nhân, ngày mai là nông dân…

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh tới các nền kinh tế khắp thế giới, nhiều nhà máy đóng cửa, không ít công trường tạm ngừng xây dựng và việc không tránh khỏi là nhân công bị sa thải hàng loạt. Nạn thất nghiệp lan ra nhanh chóng, gây nên những làn sóng di cư ngược của dòng người lao động trước đây rời làng quê lên đô thị hay qua biên giới để mưu sinh, mang theo những khát vọng dang dở cùng tâm trạng bực dọc…

Ở đất nước còn nghèo như Tajikistan, hệ lụy của khủng hoảng tài chính toàn cầu được đo lường bằng các túi bột mì. Ít nhất đó là những gì chị Bibisoro Sayidova ở vùng quê Tosh-Teppa trải qua khi chạy ăn từng bữa cho 5 đứa con của mình. Từ mùa Thu năm ngoái, chồng chị, lao động di cư ở Nga, vẫn chưa được nhận lương và vẫn phải bốc hàng trong niềm tin và sự chờ đợi… “Tôi khóc khi bọn trẻ không có tất hay áo khoác. Chúng tôi vẫn hy vọng anh ấy sẽ được trả lương”, chị Sayidova nói.

Sự tất yếu toàn cầu

Theo The New York Times, lao động di cư như chồng chị Bibisoro Sayidova nằm trong số những người đầu tiên cảm nhận được ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, lượng tiền lao động di cư chuyển về nước giảm mạnh trong mấy tháng cuối năm 2008 sau nhiều năm tăng trưởng ở mức hai con số và năm nay, dự báo mức tăng trưởng chỉ ở mức 1-5%.

Cũng giống như nhiều người Tajikistan ở Nga – nước có lượng dân di cư lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ), Borun làm việc trong ngành xây dựng, một trong hai ngành chịu hậu quả nghiêm trọng nhất từ khủng hoảng tài chính và giá dầu giảm. Công của anh trong việc khôi phục Bảo tàng Lenin ở Mátxcơva bị nợ lại và mãi đến tháng 11 vừa rồi, ông chủ mới trả lương đồng thời… sa thải anh. “Họ nói rằng những người nước ngoài phải ra đi”, Borun nói, run rẩy trong chiếc áo jacket mỏng.

Borun đã trở về căn nhà nhỏ của mình ở Khodja-Durbod, ngôi làng gần Tosh-Teppa – cũng như phần lớn trong số 300 công nhân bị nghỉ việc mà anh biết. Tình hình tương tự tại Tây Ban Nha. Giai đoạn 1994-2007 là thời điểm nước Tây Âu này bùng nổ xây dựng, thu hút hàng triệu lao động đến từ Đông Âu, Bắc Phi, Mỹ Latinh. Khi Tây Ban Nha siết chặt quy định đối với lao động nhập cư để ưu tiên cho lao động bản xứ, lao động nhập cư là đối tượng mất việc đầu tiên. Đồng nghĩa với hết tiền, họ chỉ còn cách về nhà để tránh khả năng bị liệt vào đối tượng cư trú bất hợp pháp

Hình ảnh quen thuộc ở khu vực vùng Vịnh gần đây là những công trường xây dựng ngổn ngang. Nhưng khi khủng hoảng “hỏi thăm”, các công trường ngừng thi công vì thiếu vốn, một phần lớn số lao động này bị trả về nước hoặc chỉ có việc cầm chừng. Câu nói thường trực của những nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp và người lao động là: Không biết điều gì rồi sẽ xảy ra???

Tình hình việc làm tại Trung Quốc có lẽ là một trong những nơi bi thảm nhất. Nhà ga trung tâm thành phố Quảng Châu từ nhiều tháng qua luôn tấp nập cảnh người lao động tay xách nách mang lên tàu về quê. Theo Bộ Nông nghiệp nước này, khoảng 20 triệu người lao động từ nông thôn lên thành phố đã mất việc làm khi hàng nghìn công ty bị ảnh hưởng nặng nề do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa trên toàn thế giới sụt giảm mạnh… Nhiều nhà kinh tế dự đoán mức tăng trưởng của Trung Quốc trong năm 2009 sẽ dưới 7,5%, mức thấp nhất kể từ năm 1990, đồng nghĩa với việc sẽ có thêm nhiều người thất nghiệp, đồng nghĩa với những chuyến tàu chở lao động về quê sẽ tiếp tục lăn bánh…

Trong hơn 30 năm qua, theo LHQ, khoảng 130 triệu người Trung Quốc đã rời nông thôn lên thành phố và đây là dòng di cư lớn nhất trên thế giới, đã tiếp sức cho mức độ tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc, cải thiện đời sống cho những người nghèo đói nhất thì giờ đây, một thực tế là làn sóng di cư lớn nhất trong lịch sử loài người đã đảo ngược.


Việt Nam không là ngoại lệ

Theo nhận định của Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đảo ngược dòng lưu chuyển bình thường của di dân lao động và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước đoán có 200 triệu di dân lao động trên thế giới.

Sự đảo chiều của lao động di cư cũng đang xảy ra ở Việt Nam. Hàng năm Việt Nam có khoảng 7-8 vạn lao động xuất khẩu làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Ngăn chặn khủng hoảng, chính sách bảo hộ nội địa của nước chủ nhà gồm cả bảo hộ hàng hóa “sức lao động” đã dẫn đến tình trạng nhiều lao động “ngoại”, trong đó có lao động Việt Nam bị phá vỡ hợp đồng hoặc ngắc ngoải chờ việc. Điển hình là tình trạng lao động Việt ở CH Czech. Chính sách “thắt lưng buộc bụng” nhân công ở các nhà máy khiến không ít người Việt lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan: Ở lại không có việc làm, về nước thì không có tiền…

Trong khủng hoảng kinh tế thế giới, các chuyên gia đã cảnh báo, lao động tại các nước đang phát triển, đặc biệt là nông dân, lao động nông thôn sẽ bị tác động mạnh mẽ nhất, bởi họ không chủ động được công việc, nguồn tiêu thụ sản phẩm. Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, đa phần lao động nông nhàn đều di chuyển từ nông thôn lên thành thị. Và khi doanh nghiệp cắt giảm nhân công hoặc đóng cửa, nhóm lao động di cư này thường là đối tượng bị sa thải đầu tiên, và dòng lao động di cư ngược đang diễn ra, dù biết nơi làng quê cũng không phải là “nơi tránh bão” an toàn…

Theo cuộc điều tra lao động Việt Nam năm 2006 cho thấy trong tổng số 486.500 người di cư giai đoạn 5 năm trước đó, số người ra thành thị chiếm 57%, tiếp đến là luồng di cư nông thôn – nông thôn (30%) và yếu nhất là luồng di cư thành thị – nông thôn (13%). Nhưng nay, tình hình đang khác đi. Đối với nền kinh tế dựa vào xuất khẩu như Việt Nam, khi xuất khẩu giảm thì việc làm giảm là đương nhiên và nhóm lao động di cư ở các ngành nghề dệt may, da giày… sẽ bị ảnh hưởng trước. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ khi khủng hoảng kinh tế đến nay riêng TP. HCM đã có khoảng trên 7.000 lao động tại doanh nghiệp và khoảng 3.800 lao động trong khu chế xuất, khu công nghiệp bị mất việc. Tại các tỉnh phía Bắc, hàng ngàn lao động đã phải bỏ việc, cụ thể Công ty CP Thép Vạn Lợi Hải Phòng, Công ty Canon ở Hà Nội và Bắc Ninh…

Lượng lao động đột ngột đổ về nông thôn, một mặt sẽ góp phần giảm lạm phát, bớt căng thẳng về việc làm ở đô thị, mặt khác sẽ gây ra những nguy cơ thấy rõ. Ở làng quê, nông dân vẫn đang đuối sức sau một năm kinh tế đầy biến động khi giá đầu vào tăng nhanh, đầu ra cho nông sản bấp bênh, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đình đốn, dịch bệnh, thiên tai triền miên… “Nhập” thêm số lao động di cư sẽ khiến cho lượng người nghèo bị ảnh hưởng mạnh, số cận nghèo rơi xuống nghèo sẽ có khả năng tăng.

Chưa kể những khó khăn thực sự mà lao động di cư phải đối mặt khi quay về. Với nguồn vốn trong tay không có hoặc ít, khả năng mở kinh doanh hầu như không có. Nếu dựa vào hợp tác xã để phát triển trên mảnh ruộng, ao cá, gò đầm thì diện tích của hợp tác xã đã thu hẹp lại do lấy đất xây dựng cơ bản hay khu công nghiệp, nơi giải trí. Nếu xin vào doanh nghiệp tại địa phương thì hầu như lao động đã được điền đầy hoặc nếu có thì chưa chắc phù hợp với tay nghề của họ, còn ở những nơi có làng nghề thì lao động cũng đang mất việc…


Đi tìm giải pháp bền vững

Ở Trung Quốc, người lao động, cũng giống như các nhà chức trách, cũng hy vọng sự đảo chiều di cư này chỉ là tạm thời, nhưng con số quá lớn để có thể bỏ qua. Chính phủ hiện phải đặt trong tình trạng báo động cao, lo ngại những hậu quả có thể nảy sinh từ tâm trạng thất vọng, chán nản vì mất việc làm ở giới trẻ. Bắc Kinh đã kêu gọi các công ty không cắt giảm việc làm và nhiều chủ doanh nghiệp buộc phải cho công nhân nghỉ không lương.

Năm 2009 được cảnh báo là năm khó khăn nhất cho sự phát triển nông thôn Trung Quốc kể từ đầu thập kỷ. Chính phủ nước này đã thông báo một loạt biện pháp nhằm kích thích kinh tế nông thôn, trong đó có trợ cấp cho tất cả người dân vùng nông thôn mua các mặt hàng gia dụng, hay hướng nghiệp cho những lao động di cư mất việc làm. Họ cũng khuyến khích những người mất việc làm trở về quê khởi nghiệp. Các nhà chức trách ở Trùng Khánh và Hà Nam, hai nguồn cung cấp lao động di cư lớn, cũng đã cam kết cho vay vốn ban đầu.

Đối với Việt Nam, nguy cơ thấy rõ, song, giải pháp cho vấn đề này còn rất mù mịt. Bên lề Hội nghị Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nông nghiệp – nông thôn Việt Nam diễn ra vào tháng 11/2008, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn Lương Lê Phương đề xuất, cần phải tiến hành thống kê những đối tượng lao động dịch chuyển từ thành thị về nông thôn do mất việc làm; đồng thời, đào tạo lại ngành nghề cho họ để có thể sống được ở nông thôn. Song, kế hoạch cụ thể ra sao đến nay chưa rõ.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo cũng như tính linh hoạt của thị trường lao động là một trong những giải pháp căn bản cho thị trường lao động năm 2009 mà nhiều chuyên gia đưa ra. Bên cạnh đó, Viện Khoa học lao động cũng đang nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi, hoàn thiện Bộ luật Lao động theo hướng nêu trên. Cùng với đó là những chính sách an sinh xã hội để tạo cơ hội cho người lao động, vì khi thị trường linh hoạt hơn thì người lao động sẽ phải chuyển việc nhiều hơn. Theo xu hướng để tìm được một việc làm ổn định và phát triển thì vấn đề người lao động phải liên tục và chủ động tạo cho mình một sức lao động mang tính chuyên nghiệp ngay từ trước.

Ai dám bỏ ruộng đồng khi nơi đó là kế sinh nhai duy nhất của họ bao đời nay? Nhưng ai có thể yên tâm ở lại quê khi mà ruộng đất ngày càng phân mảnh, lao động ngày càng dôi dư, đất đai ngày càng ít, sản phẩm làm ra không đủ ăn? Viện Khoa học Lao động – Xã hội dự báo, năm 2009 có thể sẽ có 500.000 đến 1 triệu người bị mất việc làm, cộng với 1 triệu người Việt Nam hiện đang thất nghiệp. Xu hướng đó sẽ kéo theo tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị tăng từ 4,7% lên 5,3-5,5%. “

Việt kiều cũng về nước kiếm việc

Trước làn sóng cắt giảm nhân sự ở hầu hết các nước trên thế giới, điểm khác biệt của thị trường nhân lực năm nay là sự xuất hiện của đối tượng lao động là Việt kiều, ông Lâm Quang Vinh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tìm kiếm nhân tài Vina (Vina Head Hunter) cho biết. Chỉ chiếm khoảng 1% số người đến tìm việc làm tại Vina Head Hunter song đây cũng là nhân tố lạ, thu hút sự chú ý của nhà tuyển dụng. Bởi họ tuy nằm trong diện sa thải của các công ty nước ngoài nhưng đều là những người có kinh nghiệm và trình độ cao so với mặt bằng lao động tại Việt Nam. “Khủng hoảng là cơ hội tốt nhất để doanh nghiệp lựa chọn nhân sự có năng lực”, ông Vinh nhấn mạnh.


Ý kiến

Bà Nguyễn Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động – Xã hội: Đúng là đã xuất hiện hiện tượng lao động nông thôn ra thành thị quay ngược trở lại nông thôn. Năm 2009, lượng lao động bị sa thải khỏi thị trường lao động chính thức ở thành phố, nhất là lao động tự do sẽ rất lớn. Sự quay trở lại của họ cũng chỉ là tạm thời. Về lâu dài, họ sẽ vẫn quay trở lại thành phố vì ở nông thôn không có đủ việc làm, khi mỗi người ở nông thôn chỉ làm việc khoảng 40 ngày/năm. Đặc biệt, tâm lý của con người không muốn thụt lùi, mà cố vươn lên dù có vất vả, trầy trật đến mấy, lao động ở quê cũng sẽ quay lại “bám” lấy thành phố để kiếm sống…

Phải có 3 thị trường lao động: nông thôn, thành thị chính thức và thành thị phi chính thức. Hiện lao động tự do ở nông thôn ra thành thị về lâu dài hầu như không nhập được vào thị trường chính thức. T.B

TS. Vũ Trọng Bình, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn (IPSARD): Hiện tượng chảy ngược lao động từ thành thị về nông thôn là có thật. Cần phải phân biệt giữa 2 luồng di cư: di cư từ nông thôn ra thành thị, có việc làm, có cuộc sống ổn định ở thành phố thì không có hiện tượng chuyển dịch. “Dòng chảy” lao động ngược chỉ xuất hiện ở đối tượng là lao động tạm thời, bị thất nghiệp do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, công nghiệp và dịch vụ không phát triển. Họ lại không có nhà cửa ở thành phố, nên sẵn sàng về quê tìm việc khác.

Việc họ về nông thôn để kiếm sống khi thất nghiệp ở thành phố là bình thường. Nếu ở lại thành phố mà không nhà, không tiền, không kiến thức thì lao động chân tay như họ có sống được không? Việc chuyển về nông thôn là chuyện hết sức hợp lý. T.H

Ông Tom Vovers, Giám đốc Công ty tư vấn nhân sự HR2B: Hiện tượng di cư ngược đang là xu hướng chung trên toàn thế giới. Theo tôi biết thì những người Mexico từng di cư đến Mỹ, nay trở về quê nhà, làm những công việc có thu nhập thấp hơn, nhưng cuộc sống thoải mái hơn. Hay những thợ ống nước người Ba Lan hiện cũng lũ lượt trở về quê hương vì suy thoái kinh tế toàn cầu đang ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến Anh quốc. Đó là xu hướng di cư ngược quốc tế.

Còn đối với dòng di cư ngược trong lãnh thổ của một nước, tiêu biểu nhất là Trung Quốc, hơn 10 triệu lao động đã di cư từ thành phố lớn về nông thôn – nơi họ sinh ra vì một lý do: thất nghiệp.

Theo tôi, Chính phủ Việt Nam đã đoán trước được việc di cư ngược vì hiện có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động, đồng thời cũng yêu cầu một số doanh nghiệp hạn chế sa thải nhân viên. Tôi dám chắc rằng những lao động “lánh nạn” thất nghiệp này sẽ trở lại khi nền kinh tế phục hồi. Việt Nam đang nỗ lực trở thành đất nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, do đó xu hướng đô thị hóa nông thôn là tất yếu, vì tất cả các nước phát triển đã từng trải qua giai đoạn này, và đây cũng là giải pháp tốt để ngăn chặn “dòng chảy ngược” đột ngột có khả năng ảnh hưởng xấu về nhiều mặt của xã hội.

Lê Trí
theo TG&VN