(DN.ODESA) – Sự kiện Hồng Kông được trao trả về cho Trung Quốc là sự kiện gợi nhắc tới những thành công vang dội của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trên con đường đưa Hồng Kông về đại lục. Bằng việc đề xuất chính sách “một quốc gia, hai chế độ” cùng với những điều chỉnh kịp thời về chiến thuật ngoại giao.

Đặc khu hành chính Hồng Kông ngày nay bao gồm đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long, khu Tân Giới và 262 các hòn đảo lớn nhỏ; phía bắc tiếp giáp với Đặc khu kinh tế Thâm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông, phía đông là vịnh Đại Bằng, phía tây là cửa Chu Giang và phía nam là biển Đông Việt Nam.


Hồng Kông có lịch sử vô cùng đặc biệt. Từ thời Tần, Hồng Kông đã được coi thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1840, Anh phát động cuộc chiến tranh thuốc phiện xâm lược Trung Quốc và ép triều đình nhà Thanh phải ký kết hàng loạt các điều ước bất bình đẳng. Năm 1842, nhà Thanh phải ký với Anh Điều ước Nam Kinh, trong đó quy định Trung Quốc cắt nhượng đảo Hồng Kông cho Anh. Năm 1860, Trung Quốc thất bại trước liên quân Anh – Pháp, nhà Thanh lại ký với Anh Điều ước Bắc Kinh, cắt nhượng phía nam bán đảo Cửu Long cho Anh. Sau cuộc chiến tranh Trung – Nhật năm 1898, Anh lại ép nhà Thanh ký Điều ước mở rộng Hồng Kông, đồng ý cho Anh thuê phần phía bắc bán đảo Cửu Long, khu Tân Giới và hơn 200 đảo lớn nhỏ phụ cận, thời hạn thuê là 99 năm.

Năm 1980, chính phủ Trung Quốc và chính phủ Anh bắt đầu đàm phán giải quyết vấn đề Hồng Kông. Ngày 19/12/1984, Thủ tướng Trung Quốc và Thủ tướng Anh ký bản Tuyên bố chung Trung – Anh, theo đó, ngày 1/7/1997, Anh phải trao trả chủ quyền Hồng Kông cho Trung Quốc, Hồng Kông sẽ trở thành Đặc khu hành chính của Trung Quốc. Và việc quản lý sẽ được thực hiện theo chính sách “một quốc gia – hai chế độ”.



Những tiền đề cấu thành phương châm “một nước hai chế độ”

Ngay từ khi quốc gia mới được thành lập, chính phủ Trung Quốc ngay tức khắc xác định lập trường: Hồng Kông là một phần lãnh thổ của Trung Quốc và không thừa nhận ba khế ước bất bình đẳng mà Anh đang thi hành. Trải qua một quãng thời gian dài củng cố địa vị kinh tế – chính trị cho Trung Quốc, giới lãnh đạo nước này bắt đầu chủ trương áp dụng phương châm “một quốc gia – hai chế độ”, lựa chọn thời cơ thích hợp để đàm phán giải quyết vấn đề Hồng Kông Tại Đại hội đại biểu toàn quốc khoá III lần thứ XI, chính phủ Trung Quốc đưa ra một trong ba nhiệm vụ trọng tâm là “thực hiện thống nhất Tổ quốc”. Ngay lập tức, phía Anh cảm thấy lo ngại.


Thăm dò lẫn nhau

Ngày 26/3/1979, Anh phái Murray Maclehose – Toàn quyền Anh phụ trách Hồng Kông – đàm phán với Trung Quốc để tìm hiểu những động thái của Trung Quốc về vấn đề Hồng Kông sau năm 1997. Chiều ngày 29/3/1979, trong cuộc hội đàm với Đặng Tiểu Bình, Maclehose cho hay hiệp ước về khu vực lãnh thổ mới Hồng Kông (do chính phủ Anh – Hồng Kông phê chuẩn) nếu chỉ giới hạn trước năm 1997, sẽ ảnh hưởng đến đà phát triển đang đi lên của Hồng Kông. Vẫn chưa an tâm về khả năng duy trì quyền lực của mình đối với Hồng Kông nên ít lâu sau đó, ngày 13/6/1979, Hạ viện Anh lại tiếp tục cử Maclehose đến Trung Quốc để tiến hành đàm phán.Ngày 5/7/1979, Anh gửi cho Trung Quốc “Bản dự thảo về vấn đề lãnh thổ mới của Hồng Kông”, nhưng không yêu cầu Trung Quốc phải hồi âm lại. Họ muốn phía Trung Quốc thừa nhận Anh đã gạt bỏ giới hạn về quyền quản lý “biên giới mới”.Trong cuốn hồi kí của mình, cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher viết: “Mục tiêu đàm phán của chúng tôi là Anh sẽ tiếp tục kéo dài thời gian quản lý đảo Hồng Kông”. Còn trong hồi kí của Maclehose thì có nội dung: “Trung Quốc chỉ có thể đứng tên trên danh nghĩa là chủ quyền của Hồng Kông – đó là sự nhượng bộ lớn nhất của Anh. Còn Anh vẫn tiếp tục kéo dài thời gian cai quản Hồng Kông sau năm 1997…”.

Còn về phần mình, Đặng Tiểu Bình kiên quyết phản đối việc Hồng Kông vẫn thuộc về Anh sau tháng 6/1997. Ông nói: “Chủ quyền của Hồng Kông luôn thuộc về nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Hồng Kông vẫn luôn có địa vị đặc biệt của mình. Hồng Kông là một phần của Trung Quốc – vấn đề này là rõ ràng và không cần bàn luận gì thêm. Tuy nhiên tôi muốn khẳng định một điều, rằng chính phủ Trung Quốc có thể nói với ông, với chính phủ Anh là khi đó cho dù có những quyết định mang tính chính trị thì quyền lợi của nhà đầu tư vẫn luôn được bảo đảm. Họ có thể yên tâm kinh doanh và đầu tư mà không sợ bất cứ ảnh hưởng tiêu cực nào”.



Kiên quyết “đổ bê tông”

Ngày 3/4/1981, trong cuộc hội kiến với Ngoại trưởng Anh tại Bắc Kinh, khi đàm phán đến vấn đề làm sao để tiếp tục duy trì sự ổn định và phồn vinh của Hồng Kông, Đặng Tiểu Bình nói: “Chúng tôi luôn duy trì chính sách lâu dài đối với Hồng Kông và bảo đảm rằng phương thức sinh hoạt, chế độ chính trị của nhân dân Hồng Kông sẽ không thay đổi, nhân dân và giới doanh nhân Hồng Kông hãy yên tâm và vững tin bước vào một tương lai tươi sáng hơn”. Nhưng để chinh phục được bà đầm thép nổi tiếng Thatcher không phải là việc dễ dàng. Trên thực tế, Đặng Tiểu Bình đã phải trải qua một hành trình đàm phán đầy khó khăn, đầu tiên là với những tuyên bố rắn đanh không lùi bước.

Ngày 6/4/1982, ông tiếp tục nhấn mạnh: “Chủ quyền của Hồng Kông thuộc về Trung Quốc. Trung Quốc cần duy trì vị thế của Hồng Kông là một trung tâm tài chính kinh tế lớn mạnh, không can thiệp và tác động ảnh hưởng quá sâu đến việc người nước ngoài đầu tư tại đây. Hồng Kông hôm nay sẽ do nhân dân Hồng Kông và người nước ngoài sinh sống tại Hồng Kông quản lý. Trong bản hiến pháp mới chúng tôi cũng quy định có lẽ cần thiết lập nên đặc khu hành chính do chính nhân dân Hồng Kông lãnh đạo về chính trị, bất kể người Hoa, người Anh hay người nào khác đều có thể tham gia … Các chế độ của Hồng Kông cũng không thay đổi, các giao thương buôn bán có thể lấy tên “Hồng Kông – Trung Quốc” ra giao dịch. Về phía Anh tôi tin rằng trên lĩnh vực thương mại không những không bị ảnh hưởng mà còn ngày một phát triển mạnh mẽ.

Nếu Trung Quốc không thu hồi Hồng Kông thì chúng tôi không biết làm thế nào để trả lại món nợ về việc thuê đất, chuyển nhượng đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long … Đó hoàn toàn là những điều ước bất bình đẳng. Trên thực tế những điều ước này nên xoá bỏ”.

Tháng 9/1982, Đặng Tiểu Bình cùng một vài lãnh đạo cấp cao Trung ương Đảng tiến hành đàm phán với Thủ tướng Thatcher. Một lần nữa, ông đi thẳng vào vấn đề: khẳng định chắc chắn quan điểm năm 1997, Hồng Kông nhất định phải thuộc về Trung Quốc.

Ông chỉ rõ, không chỉ riêng với Thủ tướng Thatcher mà với giới doanh nhân Hồng Kông, chính phủ Trung Quốc đã nói rõ ràng rằng, Hồng Kông nhất định phải thu hồi, đồng thời cam kết chính phủ Trung Quốc luôn tôn trọng và bảo đảm mọi lợi ích trên các phương diện khác nhau của Hồng Kông. Kế hoạch xây dựng và khôi phục lại Hồng Kông trở thành một đặc khu kinh tế tài chính lớn đã sẵn sàng.


Vận động trên mọi chiến trường

Bên cạnh việc trao đổi trực tiếp, Đặng Tiểu Bình còn tăng cường vận động sự ủng hộ ở mọi nơi. Bất cứ khi nào thuận tiện, dù ở đâu, ông cũng quay trở về với vấn đề Hồng Kông – Trung Quốc. Trong chuyến thăm Triều Tiên chiều ngày 27/4/1982, ông cho biết: “Chúng tôi luôn tôn trọng mọi điều ước quốc tế. Đến năm 1997 nếu không giải quyết triệt để vấn đề Hồng Kông thì cuối cùng chỉ còn hai phương án, một là kéo dài thời gian thuê đất, hai là phải thu hồi”.Nhận thấy thái độ kiên quyết của Trung Quốc, chiều ngày 22/9/1982, Thủ tướng Thatcher đến Bắc Kinh. Đến chiều ngày 24, Đặng Tiểu Bình tiếp Thatcher và đoàn tháp tùng tại Đại lễ đường nhân dân. Khi bắt đầu cuộc đàm phán, Thatcher phát biểu: “Với chúng tôi, Hồng Kông luôn thuộc về Anh. Đây là ba điều ước đã được luật quốc tế công nhận. Trung Quốc nếu muốn thu hồi Hồng Kông một cách hợp pháp thì chỉ còn con đường duy nhất là thông qua thương lượng để sửa đổi điều ước”.

Để củng cố thế thượng phong của mình, bà nhấn mạnh, trước khi đàm phán về vấn đề Hồng Kông thì cần bảo đảm chắc chắn rằng làm thế nào để có thể duy trì một Hồng Kông ngày càng phồn thịnh và phát triển trong tương lai. Điều này chỉ có thể duy trì được nếu Anh vẫn tiếp tục sở hữu Hồng Kông. Nhưng nếu nhận được những đóng góp mang tính chất thoả đáng về vấn đề quyền quản lí đặc khu hành chính, bà sẽ kiến nghị vấn đề về chủ quyền Hồng Kông lên Quốc hội Anh.

Đối diện với quan điểm cứng rắn của Thủ tướng Thatcher, Đặng Tiểu Bình nói rõ: “Lập trường của chúng tôi về vấn đề Hồng Kông là hoàn toàn rõ ràng, ở đây chủ yếu chỉ có ba vấn đề chính. Thứ nhất là vấn đề chủ quyền, đó là đến năm 1997 Trung Quốc sẽ áp dụng những biện pháp gì để quản lí Hồng Kông; thứ hai là làm sao để tiếp tục duy trì sự thịnh vượng của Hồng Kông; và thứ ba là hai chính phủ Anh và Trung Quốc cần thương lượng để làm sao trong 15 năm từ thời điểm này cho đến năm 1997 sẽ duy trì không để xảy ra bất cứ tranh chấp và bất đồng nào”.

Đặng Tiểu Bình khẳng định: “Để bảo đảm Hồng Kông luôn luôn phồn thịnh chúng tôi hi vọng sẽ nhận được những hỗ trợ và hợp tác từ phía Anh quốc. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Hồng Kông chỉ có thể phồn vinh khi chịu sự quản lý của Anh quốc. Hồng Kông sẽ tiếp tục phát triển khi thực sự thuộc về Trung Quốc. Khi đó chính phủ Trung Quốc sẽ áp dụng những chính sách mới phù hợp với tình hình của Hồng Kông”.

Trước những lập luận sắc bén và kiên định của ông, Thủ tướng Thatcher bắt đầu lùi bước để dần dần thoả hiệp.

Đàm phán bí mật

Bắt đầu từ tháng 10/1982 đến tháng 3/1983, chính phủ hai nước Anh và Trung Quốc đã tiến hành năm cuộc “đàm phán bí mật” xoay quanh vấn đề Hồng Kông. Đại diện phía Trung Quốc là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Chương Văn Tấn, đại diện phía Anh quốc là đại sứ Anh tại Trung Quốc ông Kelida. Nội dung cuộc “đàm phán bí mật” tập trung chủ yếu về vấn đề “chủ quyền” và “thống quyền”.

Tháng 2/1983, đại diện phía Trung Quốc cho biết: “Nếu như vấn đề chủ quyền không có cách giải quyết thoả đáng thì cũng không thể để cho Anh sau năm 1997 vẫn tiếp tục quản chế Hồng Kông. Cuộc đàm phán giữa Anh và Trung Quốc chỉ có thể tiến hành khi Anh thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hồng Kông, đồng thời lộ trình đàm phán cũng chỉ xoay quanh bàn luận một vấn đề chủ yếu là làm sao để duy trì sự “ổn định” và “thịnh vượng” của Hồng Kông sau năm 1997”.

Sáu tháng qua đi, tiến trình đàm phán vẫn không thu được kết quả khả quan. Trung Quốc luôn duy trì quan điểm của mình đến cùng trong khi Anh chưa thực sự thoả hiệp. Thủ tướng Đặng Tiểu Bình lúc đó quy định thời gian đàm phán là 2 năm. Người Anh luôn hiểu trên nguyên tắc thì Trung Quốc sẽ không nhượng bộ. Nếu Anh muốn bảo đảm lợi ích của Hồng Kông đến cùng thì thoả hiệp là cách làm duy nhất.

Tháng 3/1983, Thủ tướng Thatcher lại hội kiến với Đặng Tiểu Bình và đưa ra cam đoan rằng bà sẽ trình lên Quốc hội Anh ý kiến giao toàn bộ lãnh thổ và chủ quyền của Hồng Kông cho Trung Quốc. Tuy nhiên sự cam kết này không bảo đảm chắc chắn rằng việc “khôi phục chủ quyền” đồng nghĩa với “giao lại quyền thống trị”.

Dù sao thái độ của người Anh lúc này đã có những thay đổi tích cực. Từ đó, Trung Quốc đã đưa ra ba lộ trình đàm phán mang tính chất thực tế: “Chuyển giao chủ quyền; Sắp xếp kế hoạch sau năm 1997; Sắp xếp kế hoạch trước năm 1997”.

Tuy nhiên Anh chỉ đồng ý bàn luận vấn đề về sắp xếp lại tình hình trước và sau năm 1997, và như thế, họ không nhất trí với việc “giao lại Hồng Kông”, “chuyển giao chủ quyền” hay những từ khác đại loại như thế. Lộ trình đàm phán này một lần nữa lại chưa đi đến thống nhất.

Thay đổi chiến thuật

Ngày 22/6/1983, chủ nhiệm văn phòng thường vụ Hồng Kông – Ma Cao là Cơ Bằng Phi đã chủ trì hội nghị công tác Hồng Kông – Ma Cao, đồng thời truyền đạt những nội dung, chỉ thị quan trọng về vấn đề Hồng Kông tới Đặng Tiểu Bình.

Thứ nhất, khi bắt đầu đàm phán không nên nhắc đến vấn đề chủ quyền trước tiên mà nên nói đến việc làm sao quản lý Hồng Kông sau năm 1997. Sau khi vấn đề này được giải quyết thoả đáng thì hãy từ từ tháo gỡ vấn đề chủ quyền.

Thứ hai, cần quy định thời gian đàm phán nhất định, tháng 9/1984 sẽ là ngày kết thúc cuộc đàm phán, không thể để phía Anh kéo dài thêm thời hạn lâu hơn nữa. Mặt khác phía Trung Quốc hoàn toàn có quyền đơn phương tuyên bố thu hồi Hồng Kông nếu Anh nhất quyết bảo thủ và không đưa ra bất cứ bảo đảm gì về Hồng Kông.

Ông Đặng Tiểu Bình trong cuộc họp với các uỷ viên thường vụ Quốc hội cũng nhất trí: “Trước tiên ta không nên bàn về vấn đề Hồng Kông mà nên đợi sau năm 1997 khi Hồng Kông có nhữnng chế độ hay chính sách gì thì hãy bàn tới. Chính sách này có thể sẽ hướng đến đối tượng đầu tiên được hưởng lợi đó là người Anh. Không nên chỉ nói đến lợi ích của nhân dân Trung Quốc mà lợi ích của người nước ngoài cũng nên được tôn trọng”.


Kiên quyết không lùi bước

Chính nhờ cách chuyển hướng mềm dẻo đó mà không lâu sau, cuộc đối thoại giai đoạn hai giữa hai chính phủ cũng đạt được thoả thuận chung. Hai bên đi đến quyết định sẽ đàm phán những kế hoạch sau năm 1997 rồi mới đến kế hoạch trước năm 1997, cuối cùng là thoả hiệp về việc “chuyển giao chủ quyền trên phương diện hữu nghị và không để nảy sinh bất đồng”.

Ngày 12/7, hai bên tiếp tục đàm phán giai đoạn ba. Trong lần đàm phán này, Anh tập trung nói đến vấn đề “đổi chủ quyền lấy thống quyền”, kiên quyết giữ lập trường sau năm 1997 vẫn tiếp tục quản lý và thống trị Hồng Kông. Thế nhưng Trung Quốc không thoả hiệp. Kết thúc đàm phán vẫn không có sự tiến triển tích cực nào.

Chiều ngày 10/9/1983, Đặng Tiểu Bình lại hội kiến với bà Thatcher: “Vấn đề Anh muốn đổi chủ quyền lấy thống quyền trước sau gì cũng không được. Tôi hi vọng các vị hiểu rõ quan điểm này của Trung Quốc. Không nên để Trung Quốc đơn phương tuyên bố thu hồi Hồng Kông mà nên từng bước thoả hiệp, cùng nhau phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Chính sách của Trung Quốc đến năm 1997 thu hồi Hồng Kông sẽ không thay đổi nữa. Tôi mong rằng trong cuộc hội đàm thứ tư diễn ra vào ngày 12/2, phía Anh không nên quá tập trung vào vấn đề chủ quyền, thống quyền mà hãy cùng hợp tác với chúng tôi xây dựng và duy trì hình ảnh một Hồng Kông phát triển và thịnh vượng trong tương lai. Điều này đều có lợi cho tất cả chúng ta”. Thủ tướng Thatcher sau đó đã tiến hành những hồi đáp mang tính chất tích cực đến chính phủ Trung Quốc.

Trải qua nhiều cuộc đàm phán thứ năm rồi thứ sáu, Anh đã thoả hiệp không nắm giữ quyền quản lý và thống trị Hồng Kông, đồng thời đồng ý cùng Trung Quốc duy trì những kế hoạch phát triển Hồng Kông sau năm 1997.

Ngày 31/7/1984, trong cuộc gặp với Ngoại trưởng Anh, ông nói rõ hơn: “Tư tưởng “một quốc gia, hai chế độ” không chỉ hình thành hôm nay mà đã ấp ủ từ mấy năm trước đây. Cụ thể phương châm này đã được hình thành từ Đại hội đại biểu toàn quốc khoá III lần thứ XI. Tư tưởng này cũng xuất phát từ vấn đề Hồng Kông và Đài Loan mà nên”.

Trải qua nhiều cuộc đấu tranh căng thẳng và cam go, bằng những lập luận sắc bén cùng thái độ kiên quyết với tư tưởng sáng tạo “một quốc gia hai chế độ”, ngày 19/12/1984, Đặng Tiểu Bình và cộng sự cuối cùng đã đàm phán thành công. Anh đồng ý trao lại Hồng Kông cho Trung Quốc trong hoà bình đúng vào ngày 1/7/1997 – 99 năm sau khi Điều ước mở rộng Hồng Kông hết hiệu lực.
Sứ mệnh của ông đối với dân tộc đã hoàn thành.

Trần Mai Tùng (Tổng hợp