Trong tình hình kinh tế suy thoái hiện nay tại Mỹ, nhiều người đã nhắc tới thời kỳ đen tối của cuộc đại khủng hoảng kinh tế dưới thời Tổng thống Franklin Roosevelt.

Hồi năm 1930 cuộc khủng hoảng bắt đầu từ lĩnh vực sản xuất nhưng nó được khơi mào sụp đổ bởi thị trường chứng khoán. Hiện nay thị trường chứng khoá có xuống nhưng không sụp đổ mạnh như năm 1929. Thứ hai là mức sa sút về sản xuất bây giờ không cao hơn hồi đó. Phải nói rằng hiện nay lĩnh vực vững nhất trong kinh tế Mỹ là lĩnh vực sản xuất bởi vì các xí nghiệp không đến nỗi thua lỗ, nó có xuống nhưng không đến nỗi yếu kém như hồi đó.

Tình trạng thất nghiệp bây giờ chẳng hạn, đã lên tới 7% mà có thể sẽ lên đến 8% hay 9% nhưng không đến nỗi nặng nề như tình trạng thất nghiệp sau mấy năm hồi thập niên 1930, có lúc đã lên đến 25%. Tình trạng tài chính và ngân hàng thì có một số điểm tương đồng, một số ngân hàng và công ty tài chính bị thua lỗ, và hiện nay tình trạng thua lỗ đó rất nặng nề tại các ngân hàng Mỹ, nhưng so ra cũng không nặng như hồi 1930.

Điều quan trọng nhất khi so sánh cuộc khủng hoảng vào những năm 1930 với bây giờ là ngày đó các nhà nghiên cứu kinh tế nói cung chũng như những người cầm quyền điều khiển nền kinh tế ở Mỹ chưa biết rõ về sự vận hành của hệ thống tài chính cũng như mối liên hệ giữa tài chính và kinh tế. Còn bây giờ, sau gần một thế kỷ, người ta đã học hỏi được nhiều, cho nên người ta không thể để cho cuộc khủng hoảng này rơi xuống tới mức trầm trọng như trong thập niên 1930. Theo các chuyên gia thì phải mất đến gần một thập niên, kinh tế Mỹ mới phục hồi và phát triển trở lại sau cuộc đại khủng hoảng. Ông Ngô Nhân Dụng cho biết về những khó khăn mà chính phủ Roosevelt phải đối phó: đó là chữa chạy những biện pháp do chính phủ trước để lại.

Vào thời đó người ta vẫn còn dốt nát về hệ thống kinh tế cho nên chính phủ trước đó đưa ra toàn những biện pháp làm cho cuộc khủng hoảng càng trầm trọng hơn, thí dụ khi thấy mức sản xuất và tiêu thụ giảm đi, số người thất nghiệp gia tăng thì chính phủ Mỹ hồi đó lại đưa ra biện pháp, bảo hộ mậu dịch bằng cách tăng thuế nhập khẩu, tạo ra phản ứng ở khắp thế giới, các nước khác đối chọi lại bằng biện pháp bảo hộ mậu dịch và tất cả các nước kéo nhau vào tình trạng suy thoái, bởi vì nước này không bán được hàng cho nước kia thì cũng lại không mua hàng của nước khác, và cứ như vậy tạo ra một vòng luẩn quẩn làm cho cuộc khủng hoảng trầm trọng hơn. Một biện pháp nữa là chính phủ trước hạn chế số tiền lưu hành trong nước, lý do là nhiều người thiển cận, đi vay nhiều gấp bội số tiền mà họ có để đầu tư vào chứng khoán, đến khi thị trường chứng khoán xuống dốc, thì người ta vỡ nợ rất nhanh, kéo nguyên cả thị trường đi xuống.

Chính phủ trước thời tổng thống Roosevelt nghĩ rằng ngân hàng cho vay quá nhiều tiền là nguyên nhân gây khủng hoảng nên họ bèn hạn chế tiền  ngân hàng cho vay, giảm bớt lượng tiền lưu hành trong nước, nhưng chính điều này lại làm cho tình hình kinh tế sa sút hơn. Bây giờ thì người ta đã học được hai bài học đó để tránh. Còn khi tổng thống Roosevelt lên cầm quyền thì ông đã đưa ra những biện pháp rất táo bạo, không những không hạn chế số tiền lưu hành mà còn gia tăng số tiền lưu hành trong nước.

 Chương trình kinh tế mới của ông Roosevelt có một điêm quan trọng là nhà nước in tiền ra để chi tiêu, một số những khoản chi này được dùng vào chuyện tạo công ăn việc làm cho dân qua các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Tạo được công ăn việc làm, trả lương cho công nhân tức là đưa tiền vào tay người tiêu thụ. Chuyện này đã giúp cho kinh tế hồi phục một phần nào và là khởi điểm tốt, tuy rằng không hồi phục được hẳn, và phải đợi đến thế chiến thứ hai khi nước Mỹ trở thành một quốc gia sản xuất vũ khí để bán cho các nước đồng minh ở Châu Âu thì kinh tế Mỹ mới được vực dậy mạnh mẽ hơn.

Liên quan đến vai trò quan trọng của vấn đề tâm lý trong nền kinh tế và khả năng huy động tâm lý quần chúng của Tổng thống Roosevelt, ông Ngô Nhân Dụng nói: “Trong kinh tế, chủ yếu là người ta làm sao kiểm tra tiền và tiêu tiền. Thế nhưng quyết định tiêu tiền như thế nào, tiêu thụ hay là đầu tư, để dành hay là chi tiêu hoàn toàn là quyết định dựa trên tâm lý. Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thập niên 1930 sở dĩ hồi phục chậm cũng là vì rất khó chuyển được tâm lý của người tiêu thụ. Giống như con chim bị một mũi tên rồi thì sợ cây cong.

 Thì đây là tình trạng mà ông Roosevelt đã tìm cách thay đổi đầu tiên. Có lẽ việc bầu ông Roosevelt lên với khả năng hùng biện, với tài thuyết phục quần chúng của ông, cách mà ông cai trị là tiếp xúc nhiều với dân chúng, mỗi tuần nói chuyện với dân trên đài phát thanh, dáng điệu của ông rất là quả quyết, với khẩu hiệu đưa ra ngay từ lúc đầu là chúng �?chúng ta chỉ có một điều đáng sợ, đó là cái nỗi sợ hãi mà thôi. Nếu chúng ta không sợ hãi thì không có điều gì đáng sợ nữa’, đấy là những lời lẽ rất hùng hồn để khôi phục được niềm tin của dân Mỹ. Có thể nói rằng một nước bị khủng hoảng kinh tế thì cũng giống như là một nước bị tấn công, bị ngoại xâm, người lãnh đạo phải làm sao để cho dân chúng tin rằng họ đang có một người lèo lái con thuyền quốc gia mạnh tay à có khả năng thì ông Roosevelt đã làm được việc đó, và đó cũng là một yếu tố quan trọng để giúp cho những chính sách của chính phủ của ông thành công.

Ngày nay có lẽ nước Mỹ cũng cần một không khí phấn khởi và một niềm tin tưởng đối với giới lãnh đạo y như vậy.

 “Khủng hoảng này dứt khoát không là mồ chôn của kinh tế thị trường. Nó chỉ là một dấu hiệu báo động đòi hỏi một mô hình kinh tế hoàn hảo hơn”.

Trong vài tháng qua đã có nhiều chuyên gia lên tiếng lo ngại rằng cuộc khủng hoảng tín dụng mà thế giới đang phải đương đầu sẽ kéo dài và có sức công phá mãnh liệt như Đại khủng hoảng 1929. Những bức tranh đen tối đã được nêu ra cùng những tiên đoán bi quan nhất.

 Điều khiến nhiều người đã tin vào dự đoán này là hiện tượng các khu vực công nghệ như xe hơi, xây dựng, dầu lửa và nhất là khu vực công nghiệp nhẹ đang thi nhau đi vào trì trệ. Để có thể đánh giá tình hình, cần nhận diện đâu là những mẫu số chung giữa cuộc Đại khủng hoảng 1929 và những khó khăn tín dụng hiện nay. Cũng cần tìm ra những khác biệt giữa hai biến cố này. Từ đó mới có thể đưa ra những kết luận và tiên đoán bi quan trên. Đại khủng hoảng 1929 là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử của hệ thống tư bản. Nó bắt đầu từ tháng 9/1929 và kéo dài đến 4/1933. Trong vòng 3,5 năm, mức sản xuất đã giảm đến 5%, vật giá giảm xuống đến 25% và thất nghiệp đã tăng đến tỉ lệ choáng ngợ: 25% dân số trong tuổi lao động ở Mỹ.

( Còn tiếp)

Trần Mai Tùng
theo Economist