Như mọi cuộc khủng hoảng quan trọng, Đại khủng hoảng 1929 và khủng hoảng tín dụng lần này đều bắt nguồn từ những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc: Vào thập niên 20 (của thế kỷ trước), máy phát thanh, xe hơi đã là những phát minh đáng ghi nhận. Những tiến bộ này có thể so sánh với những thành quả gặt hái được trong ngành viễn thông và tin học của đầu thế kỷ 21. Nó giúp các đối tác đối tác kinh tế vận dụng nguyên liệu và nhân lực một cách hữu hiệu hơn để tăng gia sản xuất và đem lại phồn vinh

Tuy nhiên, sự giàu có này đã không được tái đầu tư một cách hữu hiệu. Ngược lại những thập niên 20, lợi tức đã được đầu tư vào nhà đất và rất nhiều trung tâm thương mại. Ngày hôm nay, những thành quả của các quốc gia mới nổi (emerging countries) không được đầu tư tại cuốc gia này. Nó được bơm vào thị trường tiền tệ của các quốc gia tiên tiến mà hiệu quả của lợi nhuận không là bao nhiêu.

Trong cả hai trường hợp, khối lượng tiền bơm vào những dự án thiếu hiệu quả tạo ra hiện trường bong bóng. Nhưng với bản chất không hiệu quả tạo ra hiện tượng bong bóng. Nhưng với bản chất không hiệu quả, những bong bóng trên cuối cùng cũng phải xì hơi hoặc vỡ. Sự mất giá của cổ phiếu và sản phẩm tài chính đã nhanh chóng lan tràn vào nền kinh tế thực, làm chao đảo đa số các ngân hàng đã cho vay có thế chấp. Để tránh tình trạng vỡ nợ, các ngân hàng thi nhau bán tống bán tháo những tài sản thế chấp. Hành động này gây hoảng hốt và làm mất niềm tin của quần chúng vào hệ thống tài chính. Hệ luỵ của nó là đẩy nền kinh tế Mỹ (vào năm 1929 và vào năm 2007) vào vòng xoáy giảm phát. Nếu không bước ra khỏi tình trạng giảm phát này, có lẽ cuộc khủng hoảng tín dụng sẽ dai dẳng và mãnh liệt như Đại khủng 1929.

Song song đó, sai lầm trong chính sách tỷ tệ của Cục dự trữ Liên bang đã làm trầm hoá Đại khủng hoảng cũng như khủng hoảng tín dụng hiện nay. Trong cả hai cuộc khủng hoảng, chính sách này đã khuyến khích giới trung lưu và lao động nghèo tại Mỹ có thể mượn tiền để tiêu thụ ngoài khả năng của mình. Kết quả là khi tài sản mất giá theo vòng xoáy của giảm phát, các “chúa Chồm” người Mỹ thi nhau khánh tận và gây thêm khó khăn cho kinh tế Mỹ. Ngoài ra, khi Đại khủng hoảng bộc phát, sinh hoạt thương mại thế giới được an bài theo hệ thống “kim bản vị” (gold exchange standard). Hệ thống này định giá đồng bạc của một quốc gia theo tỉ lệ cố định mà đồng bạc này có thể chuyển ra vàng. Hậu quả của hệ thống này là tạo ra mối liên thuộc giữa các quốc gia: Các nước thành viên phải tuân thủ một chính sách tiền tệ chung.

 Trong khi đó, tình hình kinh tế của từng quốc gia đòi hỏi một chính sách khác biệt. Khi Đại khủng hoảng bùng nổ, sai lầm lớn của Mỹ là lập tức áp dụng chính sách tiền tệ khắc nghiệt. Các quốc gia khác phải rập khuôn theo nếu không muốn lượng dự trữ vàng bị hao mòn (một đối tác kinh tế sẽ đổi tiền ra vàng và dùng vàng để đầu tư vào đồng USD). Nói tóm lại, hệ thống “kim bản vị” đã toàn cầu hoá một sai lầm trong chính sách tiền tệ của Mỹ. Ngày hôm nay, hệ thống này đã được huỷ bỏ. Tuy nhiên, tiến trình toàn cầu hoá của hệ thống tài chính đã đóng vai trò truyền nhiễm của hệ thống “Kim bản” trong quá khứ : Như chúng ta đã biết, các món nợ của người Mỹ đã được tích sản hoá và bán ra thị trường thế giới. Những khó khăn kinh tế của Mỹ  cũng có thể lôi kéo  các nước khác vào vòng xoáy suy thoái.

Cuối cùng, cũng phải ghi nhận rằng bất bình đẳng trong thu nhập cũng là một hiện tượng được ghi nhận trước khi hai cuộc khủng hoảng bùng nổ : Thập kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21 đều có cùng một thực tế : Một phần rất nhỏ của xã hội ( từ 1-2%) nắm giữ 25%  lợi tức của cả nước Mỹ. Ở các nước kém phát triển thì tình trạng này còn nhức nhối hơn. Cho dù bỏ qua khía cạnh đạo đức, chỉ nhìn qua lăng kính thực dụng, không ai có thể chấp nhận và để hiện tượng này đựơc duy trì. Sau đại chiến thứ I và nhất là sau Đại chiến thế giới thứ II, thế giới đã đi vào hệ thống sản xuất có quy mô lớn.

Như vậy, mọi xã hội đều cần có một nền tiêu thụ nội địa đại chúng để có thể tiếp thu khối lượng sản phẩm của mô hình sản xuất hàng loạt. Nếu không, giải pháp còn lại là phát triển hệ thống vay mượn để mọi người trong xã hội có thể tiêu thụ. Thu nhập càng được tái phân phối một cách bất bình đẳng thì cần tinh vi hoá hệ thống tín dụng. Trong điều kiện đó, xã hội sẽ càng lệ thuộc vào ngân hàng. Nền kinh tế có thể dễ dàng suy thoái nếu khu vực ngân hàng gặp khó khăn và hạn chế chính sách cho vay. Khủng hoảng năm 1929 và khủng hoảng “ nợ dưới chuẩn”  là bằng chứng  hùng hồn nhất.

( Còn tiếp )

Trần Mai Tùng
theo Economist