Tuy nhiên, khác biệt lớn giữa hai biến cố trên là thời gian và những gì đã được rút tỉa sau cuộc khủng hoảng 1929. Ngày hôm nay, mọi người đều đồng ý rằng chính sách sai lầm của Mỹ mới là nguyên do chính khiến một hiện tượng suy thoái vào năm 1929 đã trở thành một biến cố bất hạnh cho thế giới

Đầu tiên, ngay sau khi thị trường chứng khoán mất giá trầm trọng vào tháng 9 năm 1929, giới hữu trách Mỹ đã gần như không làm gì để nâng đỡ nền kinh tế. Tệ hại hơn, Cục Dự Trữ Liên Bang đã quan niệm rằng phải để cho thị trường tự điều chỉnh những gì quá đáng. Hơn nữa, tâm lý đạo đức lúc đó là phải trừng phạt giới đầu cơ và những ngân hàng đã có những hành động mạo hiểm quá lố.

Những vụ phá sản của các ngân hàng lớn đã tạo ra tác động dây chuyền và làm tổn thương đến lòng tin của người dân. Từ năm 1930 đến năm 1933 hơn 50% ngân hàng đã bị đóng cửa hoặc bị thu mua. Hậu quả là hàng vạn người đã tới ngân hàng đòi rút tiền và đóng tài khoản khiến cho giới tài chính càng điêu đứng. Hệ luỵ tự nhiên là thị trường tín dụng  không còn hoạt động hiệu năng vì ngân  hàng không còn và không dám cho mượn tiền nữa. Nói tóm lại, vào năm 1929 một sự suy thoái cần được điều chỉnh đã trở thành vấn nạn cho khu vực ngân hàng và lan sang đến khu vực kinh tế làm tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt.

 Ngoài ra , hệ thống “ kim bản vị” ( đã được đề cập ở trên) cũng đã góp phần vào những quyết định sai lầm của chính quyền Mỹ năm 1929. Đối mặt với tình trạng phá sản, nhiều nhà đầu tư đã đổi đồng USD ra vàng với hy vọng bảo toàn tài sản. Để chặn đứng nguy cơ này, Mỹ không muốn và không thể bơm tiền vào các ngân hàng với hậu quả là phải phá giá đồng USD. Ngược lại, chính quyền Mỹ đã phải tiếp tục chính sách thắt lưng buộc bụng khiến các mức dự trữ tiền của ngân hàng thương mại suy giảm thêm và dẫn tới khủng hoảng trầm trọng.

 Mãi đến tháng 7 năm 1932, dưới áp lực của Hạ viện, Cục dự trữ Liên bang mới bắt đầu cung cấp nguồn vốn vào ngân hàng và nền kinh tế. Quyết định này đã đem lại hiệu quả và kinh tế Mỹ hồi sinh vào cuối năm 1932. Hiện tượng này đã thuyết phục được nhiều quốc gia huỷ bỏ hệ thống lấy vàng làm mức đo hối đoái. Tất cả các thống kê đã chứng minh một điều : Những quốc gia đã nhanh chóng rút ra khỏi hệ thống “kim bản địa” cũng là những quốc gia đã giải quyết sớm nhất những khó khăn kinh tế ( Anh, Nhật và các quốc gia Bắc Âu). Ngược lại, kinh tế Pháp và Thuỵ Sĩ đã còn tiếp tục quằn quại trong  khủng hoảng vì là những nước rút ra sau cùng khỏi hệ thống.

Ngày hôm nay, chính giới Mỹ đã tỏ ra sáng suốt hơn. Hàng trăm Tỷ USD đã được nhanh chóng bơm vào thị trường tiền tệ để tránh nguy cơ luồng vốn “ đóng băng” . Hơn nữa,  trừ sai lầm bỏ rơi ngân hàng Lehman Brother ( với những hậu quả tai hại của nó) không một ngân hàng nào bị dồn vào thế phải đóng cửa vì phá sản. Quan trọng nhất, ý thức hệ đã bị gạt ngang khi phải huy động vốn  cho các ngân hàng. Ở đây, mục đích không phải là quốc hữu hoá các công ty tài chính. Mục tiêu là tái tạo các nền tảng thuận lợi để ngân hàng tiếp tục sinh hoạt bình thường.

 Chính vì vậy, đã có rất ít các hành động quốc hữu hoá. Nếu có, nó chỉ ở những phạm vi rất nhỏ, cùng lắm là chính phủ đề nghị thu mua một số cổ phiếu ưu đãi nhưng không có quyền bầu bán ( non-voting share ) . Loại cổ phiếu này có lợi nhuận rất cao để tránh gây thiệt hại cho  ngân  sách quốc gia ( trường hợp AIG, UBS) . điều đáng ghi nhận là có những ngân hàng, sau khi nghiên cứu đề nghị của chính phủ, đã khước từ sự giúp đỡ của nhà nước ( trường hợp Barclays) . Tất cả những dữ kiện trên chứng minh một điều -những hành động này rất thực tiễn. Chúng phải được xem như những hành động khẩn cấp. Một khi đã nói đến khẩn cấp thì không nên lôi thôi đề cập đến ý thức hệ hay những thủ tục cần có trong một tình trạng bình thường. Không một anh cứu hoả nào đòi hỏi các bà sơ phải đội khăn, mặc áo trước khi được bế ra khỏi một tu viện đang bén lửa.  

Các quốc gia Tây Âu đang ráo riết chuẩn bị những kế hoạch kích thích nền kinh tế bằng chính sách thuế má rộng rãi. Đây là những chính sách mang yếu tố quyết định cho cuộc chiến chống khủng hoảng tín dụng. Ngay cả trước khi trở thành Tổng thống thứ 44 của Mỹ, ông Obama đã đưa ra một kế hoạch kích thích kinh tế. Pháp đã đưa ra một kế hoạch tương tự và Anh đã khiến cả thế giới ngạc nhiên khi đơn phương tuyên bố giảm thuế VAT.

 Đây là một công cụ mà vào năm 1929 các chính giới không có để điều chỉnh nền kinh tế. Vào thời điểm 1930, chính kinh tế gia Keynes đã chủ trương những kế hoạch chấn hưng tương tự, mặc dù giá phải trả là thiếu hụt ngân sách. Nhưng lúc đó, rất ít nhà chức trách đã xem đây như một giải pháp khả thi. Vì vậy, công cụ này chỉ được tận dụng khi Tổng thống Roosevelt quyết định thi hành chính sách “ New Deal” với những công trình xây cất lớn.

Cuối cùng, những chính sách của các quốc gia tiên tiến đã được ban hành một cách đồng bộ. Trong một thế giới liên thuộc, mọi chính phủ đã hiểu rằng cần có một phản ứng nhịp nhàng và cần có sự hợp tác trên qui mô toàn cầu. Trái lại, khi khủng hoảng 1929 xuất phát, các quốc gia nạn nhân đã có những thái độ tiêu cực.

Chính sách bảo hộ nền kinh tế quốc gia qua chế độ quan thuế bảo hộ đã được ban hành với sự cạnh tranh giảm giá.Điển hình là bộ luật Smoot- Hawley Tariff vơớiđề nghị tăng thuế đối với hơn 20.000 sản phẩm nhập khẩu. Đây là một hành động làm trầm trọng hoá khủng hoảng 1929. Thật vậy, thái độ này đã gây nhiều tổn thương cho thương mại thế giới và đưa hàng ngàn doanh nghiệp Mỹ vào tình trạng phá sản.

 Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng cả hai cuộc khủng hoảng đều bắt đầu  vì một số yếu tố tương tự. Tuy nhiên, giữa hai cuộc khủng hoảng, phản ứng của các quốc gia đã hoàn toàn khác hẳn. Những sai lầm của quá khứ đã được rút tỉa. Hy vọng rằng những bài học mới cũng  được ghi nhận. Khủng hoảng lần này dứt khoát không phải là mồ chôn của kinh tế thị trường. Nó chỉ là một dấu hiệu báo động đòi hỏi một mô hình kinh tế hoàn hảo hơn. Hoàn hảo hơn giữa các thành phần trong một quốc gia và bình đẳng hơn giữa các quốc gia, nhất là giữa các quốc gia tiên tiến và các quốc gia trên đà phát triển.

Trần Mai Tùng
theo economist