Về khái niệm tham nhũng, cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu làm rõ nội hàm của khái niệm này và đã có nhận thức tương đối thống nhất của giới khoa học cũng như của các chính khách trong nước và thế giới [1]. Liên hợp quốc cũng đưa ra khái niệm tham nhũng với các dấu hiệu đặc trưng của nó.

Bài viết này không có ý định bàn luận thêm về khái niệm tham nhũng mà sử dụng khái niệm đó để tìm hiểu bản chất, đặc điểm của tham nhũng tại Việt Nam trên cơ sở đó đưa ra giải pháp đấu tranh, phòng ngừa thích hợp đưa lại hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh này.

“Tham nhũng – đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” với những dấu hiệu sau:

1/ Người có chức vụ, quyền hạn trộm cắp, tham ô tài sản của nhà nước;



2/ Lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng quá đáng thông qua việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình;



3/ Tạo ra sự xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi [3].

Ở Việt Nam, các nhà khoa học pháp lý nhìn nhận tham nhũng trên các bình diện: chính trị, kinh tế, pháp lý, đạo đức, truyền thống…và đặc biệt là bằng công cụ của tội phạm học để ghi nhận tính chất, đặc điểm và mức độ của tham nhũng [5, tr.3-tr.10]. Trên quan điểm tổng thể đó đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của tham nhũng như sau:

Thứ nhất, chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ quyền hạn làm việc trong bộ máy nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương, cán bộ trong Đảng và các đoàn thể.

Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng địa vị công tác được giao để không làm hoặc làm trái với công vụ mà mình phải thực hiện và thực hiện đúng qui định của pháp luật, gây thiệt hại chung cho lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân.

Thứ ba, người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi với động cơ vụ lợi cho bản thân mình, cho người khác hoặc một nhóm người mà mình quan tâm.

Về bản chất, tham nhũng là một hiện tượng xã hội phản ánh các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, truyền thống, tập quán của một dân tộc, một quốc gia; tham nhũng bao gồm những hành vi nguy hiểm ở mức độ cao cho xã hội, nhà nước và nhân dân. Hậu quả do tham nhũng gây ra cực kỳ lớn cho xã hội, hậu quả này không chỉ phải là những thiệt hại về vật chất với nhiều tỷ đồng, mà điều quan trọng hơn nó làm tha hoá một bộ phận của cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước, trong tổ chức Đảng và các đoàn thể xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước, gây nên sự bất bình, oán thán trong nhân dân đối với Đảng, nhà nước và chế độ xã hội, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước, đe doạ sự tồn vong của quốc gia dân tộc.
Tham nhũng là tệ nạn mang tính chất toàn cầu, tuy nhiên không phải ở bất kỳ nơi nào trên thế giới biểu hiện, tính chất, phạm vi của tham nhũng cũng giống nhau mà ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau do đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau. Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng tham nhũng ở Việt Nam có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về tính chất của tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chưa ở mức đặc biệt nghiêm trọng so với khu vực và thế giới. Khi nói đến tính chất của hành vi vi phạm hoặc hành vi phạm tội người ta thường xác định ở mức độ gây ra thiệt hại của hành vi (thiệt hại về vật chất và phi vật chất) và quan hệ xã hội được bảo vệ bị hành vi đó xâm hại. Xét cả trên hai bình diện này thì tham nhũng ở Việt Nam chưa đến mức trầm trọng như tham nhũng ở một số nước trên thế giới bởi những lý do sau:

1/ Theo thống kê và báo cáo của các cơ quan có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng thì những thiệt hại về vật chất do tham nhũng gây ra ít hơn rất nhiều so với những thiệt hại do các loại vi phạm khác gây ra, hàng năm thiệt hại do tham nhũng gây ra khoảng vài trăm tỷ đồng trong khi đó thiệt hại do những vi phạm và tội phạm khác gây ra là hàng trăm nghìn tỷ đồng. Mặt khác, theo báo cáo của cơ quan công an thì các tội tham nhũng trong những năm qua có xu hướng giảm, chẳng hạn: Năm 1997 cơ quan điều tra các cấp đã phát hiện, khởi tố 3856 vụ án kinh tế (tăng 5,6% so với năm 1996), trong đó các tội về tham nhũng tăng đáng kể: tham ô 594 vụ (tăng 14%), lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (có liên quan đến cán bộ trong các cơ quan nhà nước) 273 vụ (tăng 37,1%); lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN 350 vụ (tăng 3,2%). Năm 1998, khởi tố 3546 vụ án kinh tế (giảm 8,1% so với năm 1997), trong đó tham ô 534 vụ, lừa đảo 217 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN 284 vụ. Năm 1999, khởi tố 3016 vụ án kinh tế (giảm 15,% so với năm 1998), trong đó: tham ô 465 vụ; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN 169 vụ…
2/ Chưa có tham nhũng chính trị ở Việt Nam với những biểu hiện như đầu cơ chính trị, buôn bán chức quyền trong bộ máy cơ quan nhà nước … vì thế tham nhũng chưa xâm hại đến sự tồn tại của chế độ đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia của dân tộc. Đồng thời tham nhũng ở Việt Nam chưa có nguy cơ gây khủng hoảng nền kinh tế, chính trị và xã hội.

3/ Lâu nay ở Việt Nam khi đánh giá tham nhũng thường theo quan điểm của cơ quan điều tra, thường lấy số lượng các vụ án kinh tế để chứng minh nạn tham nhũng. Do vậy, những con số về thiệt hại do tham nhũng của các cơ quan có trách nhiệm chưa đúng với bản chất của tham nhũng nên cách nhìn nhận và đánh giá đó chưa chuẩn xác vì: các bị can, bị cáo về kinh tế, không phải tất cả họ đều bị xét xử về tội tham nhũng mà phần nhiều họ bị chịu trách nhiệm về hành vi thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm trái… những tội phạm không có động cơ vụ lợi hoặc không do lợi dụng chức vụ quyền hạn để vụ lợi. Các cán bộ bị kỷ luật hành chính liên quan đến các vụ án cũng là do phải chịu trách nhiệm về hành vi quản lý (chủ quan, buông lỏng quản lý, năng lực quản lý yếu kém mà thực chất là quan liêu) chứ không phải do hành vi tham nhũng. Chẳng hạn: Những vụ án gần đây như Tân Trường Sanh, Minh Phụng – EPCO… trừ một số cán bộ cấp phòng, sở, cục của hai ngành Hải quan và Ngân hàng bị truy tố về các tội tham nhũng còn đa phần các cán bộ khác, kể cả những cán bộ chủ chốt của hai ngành đó chỉ bị xử lý về trách nhiệm quản lý, dễ dãi trong quan hệ, chứ không phải tham nhũng. Hoặc trong vụ án được coi lớn nhất trong lịch sử tư pháp Việt Nam vừa được xét xử tại Thành phố Hồ Chí Minh–Vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn có liên quan đến rất nhiều quan chức trong ngành tư pháp từ trung ương đến địa phương, nhưng tài sản có được do tham nhũng không nhiều (vài chục ngàn đô la và những bữa nhậu nhẹt tại các nhà hàng sang trọng cho mỗi quan chức) và có nhiều quan chức chỉ bị truy cứu trách nhiệm về hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý mà không bị truy cứu trách nhiệm về các hành vi tham nhũng mà điển hình là bị cáo Bùi Quốc Huy, nguyên Giám đốc công an Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên thứ trưởng Bộ Công an, nguyên UVBCHTƯĐ… Cũng cần phải nói thêm là, số tài sản bị thất thoát trong các vụ án kinh tế không phải đều là tài sản bị tham nhũng mà phần nhiều là do làm ăn thua lỗ hoặc là hậu quả của phương thức làm ăn sai lầm của các doanh nghiệp.

Trong khi đó tham nhũng ở một số nước châu Phi, châu Mỹ la tinh, Đông Nam Á, Nga, Trung Quốc, Hàn quốc… có một qui mô lớn, những vụ tham nhũng thường lên đến hàng trăm triệu đôla, thậm chí hàng tỷ đôla, đã gây ra khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế quốc gia, dẫn đến khủng hoảng chính trị. Những điển hình cho tham nhũng ở mức độ trầm trọng như ở Tandania những năm 80 đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước; hoặc Uganđa, những năm 70 do tham nhũng mà nền kinh tế xuống dốc không phanh, nguồn thu của chính phủ bị cạn kiệt do giới quân sự đã trở thành người tiêu thụ chủ yếu nguồn lực của đất nước và nạn tham nhũng trong việc chi tiêu này không bị ai kiểm soát đã dẫn đến đất nước suy tàn. Một ví dụ điển hình tại Hoa Kỳ năm 2002, do tham nhũng đã dẫn đến sự thông đồng của cơ quan kiểm toán với các doanh nghiệp nên tài chính của các doanh nghiệp không minh bạch làm cho các nhà đầu tư bất bình, các doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ phải tuyên bố phá sản hoặc phải đem bán làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ chao đảo [4].

Từ sự phân tích trên có thể nhận định về tính chất tham nhũng ở Việt Nam chưa đến mức trầm trọng như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ. Nhận thức đúng thực trạng tham nhũng tránh được cho chúng ta hai khuynh hướng tiêu cực: Hoặc quá bi quan về nạn tham nhũng hoặc quá lạc quan về sự trong sạch của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội. Vì vậy, vấn đề nhận thức đúng bản chất của thực trạng tham nhũng có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc hoạch định các chính sách và biện pháp đấu tranh phòng ngừa tham nhũng trong tình hình hiện nay, đặc biệt trong việc tuyên truyền đến nhân dân về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thứ hai, tham nhũng ở nước ta chưa có các tổ chức theo kiểu Maphia Theo cách hiểu thông thường của các quốc gia và tổ chức quốc tế về đấu tranh chống tội phạm thì Maphia là những băng nhóm phạm tội có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công phối hợp khi hành động phạm tội, đồng thời việc thực hiện tội phạm mang tính chất chuyên nghiệp (Luật hình sự gọi với các tên: Tổ chức phạm tội, tập đoàn phạm tội, băng nhóm phạm tội….) và có sự tham gia cấu kết của các quan chức chính phủ. Diễn giải theo công thức thì Maphia = Tội phạm có tổ chức + sự cấu kết của quan chức chính phủ. Ở những nước khác, tham nhũng không còn chỉ là những hiện tượng đơn lẻ của cá nhân các quan chức mà đã thành một đường dây với sự tham gia của hệ thống quan chức các cấp, các ngành cùng với sự chỉ đạo, bày mưu, tính kế của các quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước kể cả những người đứng đầu chính phủ, đứng đầu nhà nước. Vì thế, các hoạt động tội phạm được thực hiện thống nhất, trắng trợn chiếm đoạt tài sản công, bòn rút tiền viện trợ, giao cho con cháu, họ hàng thân thích quản lý những tập đoàn kinh tế lớn với các ưu đãi đặc biệt trong hoạt động kinh tế. Điều tồi tệ hơn là những hành vi tham nhũng đó của các quan chức được sự hỗ trợ của các băng nhóm xã hội đen để gây áp lực với đối thủ, giết người để bịt đầu mối hoặc thực hiện những tội ác man rợ khác… Chúng ta đã biết nhiều đến Maphia Italia với mẫu hình này và hiện đang nổi lên Maphia của Nga trong thời Boris Ensin và hiện nay….

Trên cơ sở quan niệm này đối chiếu với thực trạng của tình hình tham nhũng ở Việt Nam thời gian qua thì ở nước ta chưa có tham nhũng theo kiểu Maphia vì: Những năm qua chúng ta chưa xử lý (hoặc chưa phát hiện được) những cán bộ cao cấp của Đảng và nhà nước về hành vi tham nhũng, nhất là những cán bộ giữ các vị trí chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ mà chúng ta mới chỉ phát hiện và xử lý một số cán bộ trong các ngành Hải quan, Ngân hàng, Công an, Viện Kiểm sát… nhưng họ chỉ là những cán bộ sơ, trung cấp. Chúng ta cũng kỷ luật về Đảng và chính quyền một số cán bộ cao cấp nhưng phần lớn những người đó không phải bị chịu trách nhiệm về tham nhũng mà họ chỉ phải chịu trách nhiệm về công tác quản lý mà họ không hoàn thành hoặc chủ quan, lơi lỏng mất cảnh giác trong khi thực thi nhiệm vụ. Điều quan trọng hơn để khẳng định ở nước ta chưa có tham nhũng theo kiểu Maphia là những cán bộ bị xử lý về tham nhũng đều không phải là những người chủ động, bày mưu tính kế, đều không phải là những người tổ chức, chỉ huy, cầm đầu trong các vụ án mà chỉ là những kẻ tha hoá, biến chất, đồng loã, bị những kẻ phạm tội từng bước lôi kéo vào làm vai trò giúp sức cho chúng. Vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn mặc dù là vụ án lớn, có nhiều quan chức tham gia nhưng tất cả họ đều chỉ là những người bị Trương Văn Cam lôi kéo, lợi dụng từ Dương Minh Ngọc, Nguyễn Mạnh Trung đến Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến, Bùi Quốc Huy… không một ai trong số họ là người chủ động tham gia băng nhóm tội phạm này.

Như vậy, nhìn nhận một cách khách quan thì ngoài một số cán bộ sơ, trung cấp, còn lại thì tuyệt đại bộ phận cán bộ và đặc biệt là cán bộ cao cấp trong Bộ máy Đảng và nhà nước ta là những người có đạo đức phẩm chất tốt, có nhiệt tâm với sự nghiệp cách mạng, không cầm đầu hoặc tham gia các đường dây tham nhũng, không chiếm đoạt tài sản của nhà nước, không đồng loã tiếp tay cho cho bọn tội phạm, không vòi vĩnh nhận hối lộ khi thi hành công vụ. Ở những người này, họ luôn rèn luyện cho mình đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn để phục vụ tốt cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, họ tự biết có những thu nhập ngoài lương (nếu có) thì như thế nào cho trong sạch, thanh thản, biết tự kiềm chế mình trước cám dỗ vật chất, tỉnh táo và giữ được lương tâm của mình trước những diễn biến phức tạp của đời sống kinh tế thị trường. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể quá lạc quan mà mất cảnh giác, lơ là việc chăm lo giáo dục phẩm chất và tư cách đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta. Những phẩm chất tốt đẹp này là “tài sản” quí giá của sự nghiệp cách mạng của Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, chúng ta phải luôn có biện pháp thích hợp giáo dục bồi dưỡng tư cách đạo đức, phẩm chất cách mạng cho cán bộ, có những biện pháp quản lý có hiệu quả không để cán bộ sa ngã, tham nhũng, đi theo tiếng gọi của đồng tiền, đồng loã với những kẻ phạm tội. Mặt khác, việc chưa phát hiện được cán bộ câu kết, chủ động tham gia chỉ huy, điều hành các đường dây phạm tội không đồng nghĩa với việc cán bộ không có những biểu hiện đó. Do đặc điểm nhân thân của các hành vi tham nhũng nên việc phát hiện nó vô cùng khó khăn, việc đó càng khó khăn khi có các quan chức cấp cao tham gia nên phần tội phạm ẩn của tham nhũng rất lớn. Trong khi đó cơ chế, tổ chức, phương tiện, kinh nghiệm điều tra phát hiện loại tội phạm này còn nhiều hạn chế, vì vậy chúng ta không nên quá lạc quan mà nên có thái độ khách quan đón nhận sự việc một cách bình tĩnh.
Thứ ba, tham nhũng ở nước ta mang tính phổ biến, nhỏ nhặt xảy ra ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Do những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức truyền thống mà nạn tham nhũng ở nước ta trong thời kỳ hiện nay không to, không mang tính chất đặc biệt nghiệm trọng như các quốc gia khác (như đã nói ở phần đặc điểm thứ nhất), mà nhỏ nhặt (vụ lớn cũng chỉ vài trăm ngàn đôla), thậm chí nó còn nhỏ nhặt tới mức tiền hoặc tài sản của đương sự hối lộ cho các quan chức chỉ trên mức quà biếu thông thường một chút mà xã hội có thể chấp nhận được, nhưng nó lại mang tính phổ biến. Và điều nguy hại nhất của tệ nạn tham nhũng ở nước ta lại nằm ở chính đặc điểm này, nó cũng chính là nguyên nhân của việc đấu tranh chống tham nhũng của các cơ quan chức năng kém hiệu quả, làm cho thói quen nhận hối lộ của quan chức và việc đưa hối lộ của người dân khi có việc trở thành bình thường trong đời sống hằng ngày, thậm chí còn coi là văn hoá ứng xử khi đến làm việc tại cơ quan công quyền và chính việc nhận và đưa hối lộ trở thành bình thường đã dẫn đến việc tham nhũng ở nước ta mang tính phổ biến. Vì vậy, không có giải pháp tích cực nó sẽ phát triển trở thành một qui luật trong hoạt động công quyền thì hậu quả sẽ khó lường cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Tính phổ biến của tham nhũng Việt Nam được biểu hiện trên các mặt sau:

1/ Tham nhũng bao trùm tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mọi cấp mọi ngành, ở đâu người ta cũng thấy có tham nhũng và không có tiền lót tay sẽ không giải quyết được công việc, ngay cả khi đã đầy đủ các điều kiện và thủ tục pháp luật qui định. Nạn quà cáp biếu xén khi đến cửa quan đã trở thành “tập quán”, phong tục trong xã hội ta. Chúng ta có thể gặp hiện tượng này ở bất kỳ đâu nơi có hoạt động công quyền, chẳng hạn như đến UBND xã, phường làm giấy khai sinh cho con, chứng nhận giấy tờ… cũng phải có quà cho cán bộ, vào cơ quan cũng phải xu nịnh bảo vệ… Đặc điểm này đã gây nhức nhối, làm băng hoại đạo đức của cán bộ công quyền, đe doạ sự tồn tại của nhà nước, sự bền vững của chế độ và sự lãnh đạo của Đảng.

2/ Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cơ quan hành pháp mà còn xảy ra nhiều ở cơ quan thanh tra, kiểm tra, cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án, thi hành án). Sự tham nhũng ở các cơ quan này đã làm cho vi phạm và tội phạm không bị phát hiện hoặc không được xử lý, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội với những hậu quả vô cùng nặng nề. Sau khi có Nghị Quyết 08 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, trong báo cáo của ngành Toà án năm 2002 đã công khai những trường hợp làm oan người vô tội (những người các cấp xét xử của toà án tuyên không phạm tội), tổng số 58 trong đó: Sơ thẩm cấp huyện 27 người; sơ thẩm cấp tỉnh 28 người; phúc thẩm cấp tỉnh 4 người, phúc thẩm tối cao 12 người; giám đốc thẩm cấp tỉnh 3 người; giám đốc thẩm cấp tối cao 4 người[2]. Đó là chưa kể các quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì lý do không có tội của cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát.

3/ Tham nhũng xảy ra trong một bộ phận cán bộ quân đội, nhất là số làm kinh tế, phụ trách tài chính – hậu cần có trách nhiệm cấp phát trang, thiết bị cho Quân đội. Đây là lĩnh vực tương đối khép kín, các cơ quan chuyên trách kiểm tra, thanh tra của nhà nước không vào được do đặc điểm bí mật quân sự.

4/ Ở nước ta khi chuyển sang cơ chế thị trường có một dạng tham nhũng đặc thù là một số kẻ lợi dụng các quan hệ với các quan chức để mưu lợi riêng, như chạy thầu, chạy vốn, chạy dự án cho nhà đầu tư, cho doanh nghiệp, chạy chức quyền cho người cơ hội, dùng tiền để phân hoá, gây mất đoàn kết nội bộ cơ quan.

5/ Tham nhũng trong một bộ phận làm báo chí (phóng viên, biên tập viên, người có trách nhiệm của các báo và quản lý hoạt động báo chí). Do tư lợi mà những người này dùng báo chí để doạ dẫm, vòi vĩnh doanh nghiệp và quan chức, dùng báo chí để phục vụ mưu đồ của người này, người kia, muốn hại ai thì dùng tiền để đưa lên báo chí gây rối xã hội.

6/ Tham nhũng đã xuất hiện trong đông đảo cán bộ cấp cơ sở, những “quan lại” mới ở nông thôn bớt xén tiền do dân đóng góp, tiền từ đầu tư của nhà nước, tiền thuế, tiền viện trợ nhân đạo của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

Tham nhũng mang tính phổ biến, nhỏ nhặt là đặc điểm quan trọng nhất của nạn tham nhũng ở nước ta và cũng chính nó làm cho tham nhũng trở nên trầm trọng. Thực trạng này rất nguy hiểm không những nó làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ ta, phá hoại sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước mà còn làm băng hoại đạo đức xã hội, phá hoại các giá trị truyền thống văn hoá của dân tộc – vốn là nguồn sức mạnh của dân tộc ta từ trước đến nay.

Trên đây là những đặc điểm tham nhũng ở chủ yếu của tham nhũng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, những đặc điểm này có ý nghĩa quyết định việc lựa chọn giải pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Hy vọng bài viết này góp một tiếng nói vào cuộc đấu tranh và phòng ngừa tham nhũng ở nước ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Nội Chính Trung ương, Đề tài đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, Hà Nội, 1998; Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ tư pháp, Tài liệu chống tham nhũng, Hà Nội, 1994; Đỗ Ngọc Quang, Bàn về khái niệm tham nhũng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 4 – 1997, tr 64 – 67; Nguyễn Mạnh Kháng, Bàn thêm về vấn đề đấu tranh phòng chống tham nhũng, Tạp chí NN&PL số 11-1997, tr16 – 22; Viện thông tin Khoa học Xã hội, Tham nhũng tệ nạn của mọi tệ nạn, Hà Nội, 1997; Đào Trí Úc, Tham nhũng nhận diện từ khía cạnh pháp lý và cơ sở pháp lý mới của đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 -1996.

2. Báo cáo của Chánh án Toà án nhân dân Tối cao về công tác toà án, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá 11, Tháng 10-2002.

3. International Review of Criminal Policy, No 41, A/ Conf, 169/14; 1995, 13 April

4. Ngân hàng thế giới, Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây dựng trong sạch quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

5. Đào Trí Úc, Tham nhũng nhận diện từ khía cạnh pháp lý và cơ sở pháp lý mới của đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9-1996, tr3-tr10.


theo Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội