Thêm một lần, cơn khát danh vọng và quyền lực của những nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa tự tôn đã đẩy nước Mỹ tới bờ vực thẳm trong khi số nhân vật có khả năng thiết lập được những định chế tài chính vững chắc chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Sự thật không thể chối cãi

Trong khi nhiều người Mỹ chưa hiểu cặn kẽ thế nào là các khoản thế chấp dưới chuẩn, hoán đổi những khoản tín dụng quá hạn, chứng khoán bảo đảm bằng tài sản thế chấp hay các giao ước nợ có thế chấp (CDOs – collateral debt obligations), thì cuộc khủng hoảng tồi tệ hiện giờ đã mang tên chúng.



Chính cơn khát danh vọng và quyền
lực của các nhà lãnh đạo đã gián tiếp
đẩy Phố Wall đến bên bờ vực thẳm
Ảnh nguồn: www1.istockphoto.com

Tuy nhiên, chúng ta không thể đổ lỗi khủng hoảng tài chính xảy ra là do các công cụ tài chính quá rối rắm. Trái lại, đây chỉ là cuộc khủng hoảng do đường lối lãnh đạo sai lầm của những nhân vật chủ chốt tại thị trường tài chính Mỹ.

Thay vì theo đuổi mục tiêu lâu dài, Tổng Giám đốc của Bear Stearns, Lehman Brothers, AIG, Countrywide Financial và Washington Mutual chỉ chạy theo những lợi ích trước mắt. Họ đã định giá rủi ro thấp hơn thực tế rất nhiều nhằm thu về phí môi giới, đồng thời lại ôm những khoản nợ khổng lồ để đầu tư vào các công cụ tài chính phức tạp có độ rủi ro khôn lường.

Sai lầm đã rõ nhưng những lãnh đạo này lại không dám nhìn thẳng vào sự thật khi giá trị tài sản họ đang nắm giữ bị sụt giảm nghiêm trọng tới mức không còn khả năng thanh khoản. Trái lại, họ vẫn khăng khăng rằng chính việc áp dụng mô hình tài chính tinh vi đến vậy đã tạo ra giá trị tài sản siêu việt.

Trong một số trường hợp, phương pháp “từ mục tiêu danh vọng áp dụng thành mô hình – mark to model” (hay như Warren Buffett – Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway gọi tên là “từ danh vọng tới vô thực – mark to myth”) đã không thể phát huy tác dụng, khi mà cả những người trong và ngoài cuộc đều khó có thể xác định đâu mới là những tài sản thực sự có giá trị. Giá như họ áp dụng thuyết đầu tư lâu dài của Buffett thì giờ này tập đoàn của họ chắc vẫn bình an vô sự.

Cơn địa chấn tại Phố Wall: Chỉ là thất bại về đường lối lãnh đạo

Nhiệm vụ trên hết của một nhà lãnh đạo chính là đảm bảo sự trường tồn của doanh nghiệp mà họ đang quản lý. Thế nhưng, những nhân vật được nhắc tới ở đây chỉ chăm chăm tới cái lợi trước mắt cùng bổng lộc hậu hĩnh cho riêng họ thay vì bảo đảm sự tồn tại và phát triển lâu dài của tập đoàn.

Trên phương diện này, những lãnh đạo ngày hôm nay đã đi theo vết xe đổ của Jeff Skilling – nguyên Tổng Giám đốc (TGĐ) tập đoàn Enron hay Bernie Ebbers – nguyên TGĐ WorldCom; chỉ khác duy nhất một điểm: những gì họ đã làm không bị coi là bất hợp pháp.

Trong bối cảnh đó, vẫn có những nhân vật của giới tài chính nổi bật với tài lãnh đạo khôn ngoan và kín kẽ bởi, họ luôn ở trong tư thế sẵn sàng đương đầu với khủng hoảng, bằng việc tiên liệu những rủi ro mang tính hệ thống cũng như đã có những trang bị cần thiết cho mục tiêu phát triển lâu dài của tập đoàn.Dick Kovacevich of Wells Fargo (WFC), Jamie Dimon of JP Morgan Chase (JPM), Ken Lewis of Bank of America (BAC), Lloyd Blankfein of Goldman Sachs(GS), and John Mack of Morgan Stanley (MS).

Những nhân vật được nói đến ở đây là Dick Kovacevich của Wells Fargo (WFC), Jamie Dimon của JP Morgan Chase (JPM), Ken Lewis của Ngân Hàng TW Hoa Kỳ (Bank of America – BAC), Lloyd Blankfein của Goldman Sachs (GS), và John Mack của Morgan Stanley (MS).

Tuy nhiên, vẫn còn đó những
cánh chim trong cơn bão,
vượt qua thời kỳ khó khăn
Ảnh nguồn: crazynewway.com

* Kovacevich của Wells Fargo đã gây dựng một tập đoàn ngân hàng cho vay thế chấp hàng đầu nước Mỹ bằng việc chỉ áp dụng phương thức cho vay bền vững và nói không với các khoản thế chấp không đạt chuẩn – nhằm tránh khỏi sai lầm đã dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng cho vay thế chấp như Countrywide Financial.

*Jamie Dimon – TGĐ tập đoàn JP Morgan và Ken Lewis – Thống đốc ngân hàng TW Hoa Kỳ (Bank of America) đã đảm bảo tình hình tài chính của tập đoàn luôn minh bạch và ổn định. Chính vì vậy, họ khá chủ động trong các thương vụ mua lại những tập đoàn trên bờ vực phá sản là Bear Stearns, Washington Mutual, Countrywide và Merril Lynch với các mức giá hết sức thoả đáng.

* Còn Blankfein – TGĐ của Goldman và Mack – TGĐ của Morgan Stanley lại đảm bảo được tính thanh khoản và kiểm soát chặt chẽ rủi ro cho tập đoàn mình bằng quyết định chuyển sang mô hình tập đoàn ngân hàng công ty mẹ công ty con.

Cánh chim bằng trong cơn bão

Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, để nói về một nhà lãnh đạo có đường lối sáng suốt và bền vững nhất, không ai xứng đáng hơn người đứng đầu Bộ Tài chính Hoa Kỳ – ông Henry Paulson.

Do từng là thành viên ban quản trị Golman Sachs từ năm 2002 nên tôi có cơ hội chứng kiến tận mắt những gì Henry Paulson đã làm. Nếu không nhờ có Paulson với sự linh hoạt, bền bỉ cùng khả năng của ông trong việc buộc các vị tổng giám đốc phải đối mặt với sự thật thì nền tài chính Mỹ chắc còn tồi tệ hơn giờ rất rất nhiều.



Phố Wall, con đường lắm cạm bẫy. Nhưng làm thế nào để tránh?
Ảnh: Economists

Khi nhận cương vị Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ, chắc hẳn Paulson không bao giờ nghĩ rằng có một ngày ông sẽ phải đứng ra cứu vớt các tập đoàn tài chính Mỹ bởi trọng trách ban đầu của ông chỉ là làm thuyết khách nối lại mối quan hệ giữa Bộ trưởng Tài chính Mỹ và các nước khác trên toàn cầu.

Trong cuộc khủng hoảng hiện giờ, vận dụng kinh nghiệm có được sau nhiều năm làm thống đốc ngân hàng đầu tư, Paulson đã thuyết phục được cơ quan hành pháp và kể cả các phe phái tại quốc hội Mỹ thông qua khoản cứu trợ trị giá 700 tỷ đôla Mỹ tại Hạ Nghị viện hôm 04/10.

Paulson là nhân vật tin vào tính hiệu quả của hệ thống thị trường tự do, nhưng ông nhận ra rằng nếu không có sự can thiệp của chính phủ Mỹ thì cuộc khủng hoảng tài chính hiện giờ có nguy cơ huỷ hoại toàn bộ hệ thống tài chính.

Lúc này, chúng ta cũng chỉ biết hy vọng rằng những động thái gần đây nhất từ phía người đứng đầu Bộ Tài chính, cùng với biện pháp mua lại các tập đoàn làm ăn thua lỗ của chính phủ sẽ đủ mạnh để vực dậy lòng tin của thị trường và tránh cho nền kinh tế khỏi những khoản nợ xấu chồng chất.

Cạm bẫy sau lưng

Đây chỉ là cuộc khủng hoảng mới nhất và có quy mô lớn nhất trong chuỗi các cuộc khủng hoảng diễn ra theo chu kỳ 10 năm một tại Hoa Kỳ. Chúng ta hẳn còn chưa quên cuộc khủng hoảng tiền gửi và cho vay vào thập niên 80 hay sự sụp đổ của các công ty quản lý quỹ dài hạn vào thập niên 90 của thế kỷ trước, hay như hiện tượng “ nổ” bong bóng công nghệ vào năm 2002.

Ấy vậy mà, những nhà tài chính “sáng tạo” vẫn tiếp tục tạo ra nhiều mô hình và nhiều công cụ tài chính mới phục vụ cho cái lợi trước mắt mà không hề lường hết được những cái bẫy đằng sau chúng.

Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng chính lòng tham đã dẫn tới sự thất bại ngày hôm nay, thế nhưng lòng tham đâu phải điều gì mới mẻ. Lý giải cho sự thất bại của các tên tuối lớn trong thời gian gần đây, ta nhận thấy đội ngũ quản lý đáng lẽ phải là những nhà lãnh đạo khôn ngoan, thiết lập nên các công ty có độ bền vững lâu dài thì họ chỉ đơn thuần là những người có chút xuất sắc, nhưng đã vội nghĩ rằng mình thông minh hơn tất thảy mọi người.

Tại các tập đoàn đã sụp đổ, hội đồng quản trị đang phải đau đầu giải quyết đống tro tàn còn lại, khi họ đã không thể chọn được mặt để gửi vàng. Họ đã phải trả giá đắt khi trao quyền quản lý vào tay những người đứng đầu có danh tiếng, nhưng lại chạy theo chủ nghĩa tự tôn – những người đặt hình ảnh và quyền lực của chính mình lên trên trách nhiệm của một nhà lãnh đạo

Những vấn đề trên rồi sẽ tái diễn cho tới khi hội đồng quản trị của các tập đoàn lựa chọn được những nhà lãnh đạo có uy tín, có bản lĩnh, chính trực. Trong công cuộc khôi phục sức mạnh, vai trò đầu tầu cũng như tính bền vững của hệ thống tài chính Mỹ, chúng ta cần những con người như vậy


theo HBS In The New