Đôi lời tâm sự của tác giả: Chuyện ông Nhỏ đổi đời’ được đăng tải trên báo “Doanhnghiepodessa.com” cách đây đã 4 năm và đã làm bạn đọc xa gần quan tâm. Câu chuyện tưởng chừng như đã kết thúc, và đúng ý định ban đầu là như thế, tuy nhiên, cuộc sống không trơn tru như bản vẽ thiết kế, nó xù xì và thường đưa đến những sự điều chỉnh bất ngờ ngoài ý muốn.. Ở Mát-xcơ-va khi biết tôi là tác giả “Chuyện ông Nhỏ đổi đời” một số bạn trẻ đã hào hứng muốn chuyện trò với chính tác giả. “Được thôi, ta vào quán làm ấm trà để chuyện trò cho vui, – tôi đề xuất. Nói chung, điều các bạn trẻ tâm đắc nhất vẫn là vấn đề tôi đã nhấn mạnh trong bài trả lời phóng viên báo “DN-Odessa”. Đó là điều hầu như trở thành nguyên tắc cần thiết: “Muốn thành đạt thì phải có kỷ luật sống”. “Như vậy là các bạn nắm được thông điệp chính”, – tôi đồng ý.

Cùng một tác giả:
Gặp gỡ tác giả của “Chuyện ông Nhỏ đổi đời”- giải nhất cuộc thi
Chuyện ông Nhỏ đổi đời (bài viết dự thi)

– Tuy nhiên, để sống có kỷ luật thì không đơn giản chút nào. Giá trị nào
cũng đều phải trả giá thì mới có. Không có giá trị nào là cho không
chúng ta. Thượng đế tạo ra nguyên tắc trao đổi giá trị này để bắt buộc
ai cũng phải nỗ lực học hỏi, lao động, vận dụng trí khôn và vươn lên để
mưu cầu đời sống và mưu cầu hạnh phúc. Bạn hãy lấy một vật bất kỳ và bạn
sẽ không mất bất kỳ nỗ lực nào để buông nó ra khỏi tay. Nó rơi tự do.

Còn
khi bạn cần nâng nó lên thì rõ ràng bạn phải nỗ lực mới nâng nó lên
được, cũng có nghĩa là bạn phải mất một sức lực, bạn phải “trả giá”. Nắm
giữ được nó thì cũng phái cố gắng, nâng nó lên thì cố gắng lại càng
phải gấp bội. Bước ngoặt từ đời sống theo bản năng sang đời sống có trí
khôn, nghĩa là từ đời sống theo kiểu hái lượm sang đời sống lao động có
trí khôn, có lẽ là ở chỗ đó – ở chỗ biết sống có kỷ luật, có kế hoạch,
có mục đích…

Các Mác đã phân biệt hai loại vô sản: một loại vô
sản có ý thức, có kỷ luật, nghĩa là biết lập kế hoạch cho đời sống và
mưu cầu hạnh phúc, nhưng do hoàn cảnh phân công lao động xã hội, chế độ
xã hội, hoặc do trình độ mà vẫn không thể sở hữu được tài sản đáng kể
cho ngày mai, còn một loại vô sản khác thiếu tự giác, thiếu kỷ luật
sống, không biết tổ chức đời sống và do đó thường sa ngã vào hoàn cảnh
sống theo kiểu hái lượm.

Các Mác gọi loại vô sản thứ hai này rất
không đáng tin cậy, dễ bị mua chuộc và dễ phản bội chỉ vì ba mươi đồng
xu bạc. Ông gọi loại vô sản thứ hai này là giẻ rách (“rag” *), vô sản
lưu manh hóa (nguyên tác – “lumpenproletariat” *).

Trong cuộc sống, phàm khi bạn buông thả mình, sống vô kỷ luật thì rất dễ
dàng, nhưng khi bạn muốn đạt một giá trị mong muốn, dù đơn giản thì bạn
vẫn phải nỗ lực, đồng nghĩa với việc bạn phải “trả giá”.

Bạn
muốn chinh phục một cô gái mà bạn thích? – phải trả giá bằng cách nào
đó, phục thuộc vào việc cô gái muốn “giá trị” gì. Bạn muốn vợ chồng sống
hòa thuận hơn? – cũng phải trả giá bằng cách nào đó, phụ thuộc vào
nguyên nhân xung đột vợ chồng là gì để tìm một sự đồng thuận và mỗi
người đều phải trả giá bằng cách hạn chế một phần tự do của cá nhân mình
để vì “giá trị chung” mà cả hai đều cần…

Các bạn trẻ nghi ngờ
“chân lý”: “các đại gia sở dĩ làm nên sự nghiệp lớn thì cũng do họ lao
động không mệt mỏi và có kỷ luật sống”. Quả thật, trên thực tế cũng có
không ít đại gia “vô kỷ luật”, nhưng bạn nên nhớ rằng số này “vô kỷ
luật” khi họ đã có tài sản lớn, còn thuở hàn vi tôi dám chắc là họ sống
có kỷ luật, họ nỗ lực và chắt chiu, họ có kế hoạch, họ biết áp dụng trí
khôn trong đời sống và trong kinh doanh, họ không sống buông thả.

Một
số bạn trẻ muốn biết số phận ông Nhỏ sau này rồi sẽ ra sao, qua
năm-mười năm nữa chẳng hạn. Tôi nói với các bạn trẻ rằng, chẳng qua ông
Nhỏ trong câu chuyện chỉ là hình tượng văn học được điển hình hóa từ
những số phận khác nhau, nhưng số phận ông Nhỏ thật thì tôi cũng đang
theo dõi trong “tầm ngắm”…

“Nhà văn nói láo, nhà báo nói
phét!”, – một bạn trẻ đốp một câu hoành tráng! Vâng, “nói láo” như nhà
văn Bolivia Garcia Marquez, viết tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” được dịch
ra hàng chục ngôn ngữ trên thế giới và được giải thưởng Nobel về văn
học năm 1982 thì cũng tốt cho nhân loại. Nếu bạn chưa đọc thì tôi khuyên
nên đọc nó, bởi vì trong đó một trăm phần trăm là chuyện “bốc phét”, ấy
thế mà được giải thưởng Nobel cả triệu đô la.

Cuộc sống hiển nhiên là phức tạp và sự chắt lọc tinh túy, chắt
lọc những giá trị chân thực của cuộc sống là việc mỗi người phải làm,
nếu bạn không muốn buông thả bản thân “rơi tự do” để rồi trở về với đời
sống bản năng, được chăng hay chớ. Không nhất thiết một cuộc đời vẻ vang
và rạng danh mới đáng trân trọng, mà cả những cuộc đời đã cố gắng mà
thất bại cũng là bài học đắt giá cho thế hệ sau.

Lịch sử không
lặp lại, nhưng lịch sử dù xấu dù tốt vẫn là lịch sử, là những bài học
lịch sử mà chúng ta phải trân trọng, phải ghi nhớ, phải truyền kiếp. Chà
đạp lên lịch sử thì bạn chẳng thể có tương lai. Thế mới có khoa lịch
sử, có bảo tàng-lưu trữ, mới có bia-mộ, tưởng nhớ và thờ cúng…

Tôi hứa với các bạn trẻ là sẽ còn có phần hai của câu chuyện về ông Nhỏ,
nhưng tôi sẽ viết tiếp câu chuyện chỉ sau khi tôi về thăm quê và người
vợ “giáo sư” chân quê ấy của ông Nhỏ để bức tranh về ông Nhỏ được đầy đủ
và toàn diện hơn. Và thế là tôi đã cất công từ Mat-xcơ-va lên đường trở
về quê ông Nhỏ…

PS: *) – Chú thích bằng tiếng Anh của
nguồn: – Lumpenproletariat, was originally coined by Marx to describe
that layer of the working class, unlikely to ever achieve class
consciousness, lost to socially useful production, and therefore of no
use in revolutionary struggle or an actual impediment to the realization
of a classless society. It is a collective term from Lumpenproletarier
(a German word literally meaning “rogue” as well as “rag” proletarian),
was first defined by Karl Marx and Friedrich Engels in The German
Ideology (1845) and later elaborated on in other works by Marx //nguồn:
wikipedia//.

Tiếng Việt (do tác giả dịch): Thuật ngữ “Vô sản
lưu manh hóa”, lần đầu tiên được đặt ra bởi Marx, nó mô tả một bộ phận
của giai cấp công nhân, không bao giờ đạt được ý thức giai cấp, không có
ích cho nền sản xuất xã hội, và do đó không sử dụng được trong cuộc đấu
tranh cách mạng, nó là một trở ngại thực tế để thực hiện một xã hội
không giai cấp. “Vô sản lưu manh hóa’ là một thuật ngữ chung
�?Lumpenproletarier’ (Lumpen một từ tiếng Đức có nghĩa là “lừa đảo”, cũng
là “miếng giẻ rách”), lần đầu tiên được xác định bởi Karl Marx và
Friedrich Engels trong Hệ tư tưởng Đức (1845) và sau đó được dùng trong
các công trình khác của Marx.

*0*
Chuyện ông Nhỏ đổi đời (Phần II)

Nếu là thời cách
đây 20 năm thì con đường từ Hà Nội đến quê hương ông Nhỏ cũng xa xôi và
chưa chắc tôi đã dám thực hiện một chuyến đi như thế, nhưng ngày nay
phương tiện giao thông đã rút ngắn quãng đường. Từ Mát-xcơ-va tôi bay
thẳng về Nội Bài, bắt tắc-xi về bến xe Mỹ Đình. Tôi đi xe giường nằm từ
Mỹ Đình và xuống xe sau đó hơn 2 giờ ở thành phố Ninh Bình.

Từ
đây tôi đưa địa chỉ cho một người lái xe ôm và thế là cuộc hành trình
lại tiếp tục. Tôi không rõ là xe đi về hướng nào, nhưng hết phố xá là
con đường liên thôn đi giữa những cánh đồng lúa non xanh mượt kéo dài
đến tận những dãy núi đá vôi mờ xanh trên nền trời mùa xuân sáng trắng
buổi ban trưa, tạo nên một bức tranh quê thơ mộng đẹp vô cùng…

Kìa,
những con cò trắng phau phau trên nền xanh non của đồng lúa con gái giữa
nắng xuân đang phơi phới sức sống kéo dài tới chân núi phía xa xa… Bức
tranh quê tuyệt diệu này đã bị mờ nhạt trong ký ức tôi do những năm
tháng biệt biệt nơi quê người, nay trỗi dậy như cơn sóng, làm tâm hồn
tôi chao đảo, ngả nghiêng theo nhịp của chiếc xe máy, tạo nên cơn say
khó tả vô cùng…

Chắc trong đời ai cũng đã từng được cảm nhận
niềm vui, sự sung sướng và thấy mình hạnh phúc được chiêm ngưỡng vẻ đẹp
thơ mộng và hũng vĩ bất tận của thiên nhiên. Là người từ lâu ở nước
ngoài, nay về lại tổ quốc mình thì niềm hạnh phúc đó lại càng trào dâng
với những cơn sóng xúc động mơ hồ, miên man…

***

Quê ông Nhỏ cũng như bao miền quê ngày nay đã đổi khác rất nhiều
so với hai lăm năm về trước. Đó là những làng quê đã mang màu sắc đô
thị, ít nhất thì cũng về hình thức. Thảo nào ông Nhỏ mấy năm trước về
quê mà chẳng nhận ra lối ngõ, phải hỏi đường mới về được nhà của chính
mình. Sự đổi thay của xã hội chẳng đợi chờ ai cả, dù “con người là sản
phẩm của xã hội”, nhưng con người như ông Nhỏ và tôi lại sống trong một
xã hội hoàn toàn khác bấy nhiêu năm rồi, thành thử khi về quê mình cũng
giống như sang một “hành tinh khác” với muốn vàn điều phải học hỏi, từ
ngôn ngữ đến cách cư xử, chứ chẳng nói đến cảnh quan khác lạ rất nhiều.

Chia
tay với lái xe ôm, tôi đi thẳng vào nhà bà Bé. Ngôi nhà lợp ngói, bờ
vườn xây tường bao ngăn nắp, trong vười đủ các loại rau và cây trái đang
nở hoa trông vui mắt, tươi mát và nhẹ nhõm kiểu nhà vườn. Trong vườn có
một cái ao mới đào xinh xinh.

Một người đàn ông trạc năm mươi, không cao lắm, gầy nhưng trông khỏe
mạnh ra mở cổng cho tôi.

Sau khi nghe tôi giới thiệu qua người
đàn ông có vẻ bớt ngạc nhiên và mời tôi vào nhà, còn tôi thì bỡ ngỡ đượm
chút hoài nghi. Không hiểu mình có gặp trắc trở gì không đây? Đoạn tôi
trấn tĩnh lại bởi ý nghĩ đã thành nguyên tắc rằng, khi mình đến với ai
đó với tấm lòng thánh thiện, cởi mở thì chẳng cần phải sợ sệt gì cả.
Người ta chế ngự các con vật trong rạp xiếc thì ít nhiều cũng bằng cách
đó.

Người đàn ông vừa pha trà, vừa giới thiệu tên mình, vừa nói
thủ thỉ: – Tôi tên là Ké, nhà ở ngay bên cạnh, có vợ với 5 đứa con. Hàng
xóm trông hộ nhà cho nhau thôi mà…

Uống chén trà nóng, đoạn ông nói: chuyện là thế này…

Ông Nhỏ đi
xa biền biệt nhiều năm. Bà Bé cô đơn ở nhà một mình, thiếu bàn tay và bờ
vai đàn ông nên thỉnh thoảng gọi tôi nhờ hỗ trợ việc mà đàn bà không
làm được. Bà ấy là người có ý chí và biết chịu đựng, nhưng rồi sợi dây
căng mãi cũng đứt. Sau gần mười năm bặt tin chồng, bà ấy nhờ tôi giúp bà
ấy có đứa con để phòng khi về già.

Và thế là cu Cuội ra đời.
Khi ông Nhỏ về thì bảo cu Cuội là đứa nhận làm con nuôi để đoàn tụ gia
đình. Nhưng rồi ông ấy lại ra đi trở lại, tôi cũng chẳng hiểu lý do làm
sao… Trước tết, ông Nhỏ lại về nhưng tình hình đã khác. Biết sự thật về
đứa con nuôi thì ông ấy ở được chục ngày rồi cũng bỏ đi vào miền tây
cùng với đứa cháu. Nghe đâu, ông ấy giờ làm công cho cô cháu ở trong đó.
Giờ tuổi cao mà bỏ quê hương đi tha phương kể cũng tội, nhưng chuyện đó
do hai vợ chồng bàn tính, tôi không biết. Lát nữa bà Bé về ông hỏi bà
ấy.

Tôi bần thần uống liên tục những chén nước trà mà chẳng biết
xấu hổ với “chủ nhà”. Câu chuyện có một bước ngoặt thật sự mà tôi không
ngờ tới. Ở Mát-xcơ-va tôi cứ nghĩ ông Nhỏ còn ở Odessa nhưng gọi điện
thoại hỏi han thì không được. Hơn nữa tôi đã có địa chỉ nhà ông ấy ở
Ninh Bình rồi, thành ra tôi cứ về thẳng quê ông Nhỏ vừa với tư cách
người quen, vừa với tư cách nhà báo tìm hiểu thực tế để viết bài. Tính
tôi thì cứ hùng hục thế vì muốn kết thúc chuyện ông Nhỏ, nhưng thế này
thì chưa chắc đã kết thúc ngay được ở đây.

Đoạn ông Ké bộc bạch.
– Bà ấy đi bói toán ở đâu ngoài Quảng Ninh về nói rằng trong vườn
có cả suối vàng, cứ đào lên mà lấy, bởi đó là cái lộc đức độ của bà! Thế
nhưng bà ấy không tin, bà ấy cũng chẳng ham. Như người ta thì đào xới
tung cái vườn lên rồi. Vì lý do đó mà tôi thuyết phục bà ấy cho phép tôi
đào cái ao kia, biết đâu lại tìm thấy của. Đào xong ao, vàng bạc chẳng
thấy đâu nhưng được cái ao nuôi cá. Hay vậy đó…

Bà Bé về đến nhà
thì ông Ké cũng xin lỗi và rút về nhà bên, vẻ như bàn giao khách lại
cho chủ. Tôi nói với bà Bé rằng tôi cũng không có nhiều thời gian ở lại
đây, đến thăm gia đình vậy rồi sẽ tiếp tục về quê ở Nghệ An hôm nay.
Bà Bé nhìn tôi từ đầu đến chân, đoạn vừa hỏi:
– Anh đến có chuyện gì ạ?

Tôi gửi cho bà một túi bánh kẹo đem theo và nói rằng, tôi có
chút quá gửi cho chị và cháu gọi là có khách đến và tôi chỉ muốn chị bớt
chút thời gian nói chuyện về gia đình thôi, bởi vì tôi ở với ông Nhỏ
bên đó rất lâu, như anh em nhưng chẳng hiểu gì hoàn cảnh của nhau. Liệu
tôi có thể mời chị vào quán ăn nào đó gần đây để dùng bữa và chúng ta
chuyện trò ở đó?
– Vâng, cũng được, bà Bé trả lời. Còn tôi thì mừng vì giải thoát
được tâm lý bế tắc “tiến thoái lưỡng nan” của người khách không mời mà
đến.

***

Cái quán quê mùa này tuy vậy mà cũng đầy đủ
bàn ghế tử tế, có cả ti-vi mành phẳng, bố trí tương đối hợp lý nếu như
không để ý đến một phần diện tích đem dùng để hàng hóa. Chẳng hiểu khách
hàng có lắm không mà cái tên thì rõ kêu – “Paradise.Thiên Đường’, có
kèm theo cả chữ tàu nhưng tôi không đọc nổi. Nếu nhìn xuống sàn thì thực
khách ắt sẽ thất vọng về độ vệ sinh, cũng giống như ở tất cả các quán
ăn uống ở Việt Nam mà tôi từng đến trước đây.

Tôi đề nghị bà Bé gọi
món ăn mà bà ưa thích. Chị cứ thích gì thì gọi hộ nhé, không quan tâm
đến giá cả làm gì cả, tôi đủ chi bữa ăn mà chị thích, – tôi nói.

– Chắc anh quen đồ tây rồi, bấy nhiêu thời gian bên đó rồi còn gì? – bà Bé hỏi.

– Không, tôi thích đồ ta thôi, – tôi nói dối, bởi nghĩ rằng làm gì có
đồ tây trong cái quán quê mùa này, hơn nữa, tôi muốn đi thẳng vào câu
chuyện để tiết kiệm thời gian.

Vừa nghe chuyện bà Bé kể tôi vừa ngắm nhìn bà kỹ hơn.

Quả thật
bà đúng là bé nhỏ, nhưng là Bé “hạt tiêu”. Té ra người mà tôi nghĩ là
“giáo sư” chân quê là thế này đây. Bộ cánh của bà đang mặc có vẻ là bộ
cánh thời trang văn phòng. Cái đó tôi không ngờ lại nhìn thấy ở người
phụ nữ nông thôn và có thể vì thế mà trông bà vẫn trẻ hơn so với độ tuổi
ngoài năm mươi của bà. Như bà nói thì bà cũng cố làm việc ở ủy ban xã
mấy năm nữa để lấy trọn cái sổ hưu, nhưng luật hưu trí nay mai lại thay đổi,
thành ra còn phải làm việc đến sáu mươi tuổi mới nghỉ hưu được, không
như trước đây thì nữ chỉ làm việc đến năm lăm tuổi thôi.


Đời người chung quy lại là làm cái sổ hưu, – bà Bé nói. – Giàu nghèo gì
thì cuối cùng
cũng nghĩ về già sống ra sao. Cái sổ hưu là cái bảo lãnh đời sống khi
không còn làm việc được nữa. Đơn giản vậy mà ông Nhỏ nhà tôi vẫn chưa có
cái đó. Thành thử ông ấy tự ái vì không có cái sổ hưu đó, cho nên về
nước được mấy hôm là ông ấy bỏ đi vào miền tây làm công cho đứa cháu.
Phần tư thế kỷ ở nước ngoài mà không làm được cho mình cái sổ hưu thì
còn hy vọng nỗi gì mà còn đi xa…
– Mấy năm vừa rồi ông Nhỏ quay
lại bên đó hình như cũng làm được một ít tài sản cơ
mà? Ô hay, theo tôi thì số tiền ông ấy làm mấy năm cuối cùng chắc cũng
đủ cái sổ hưu cho cả hai người là đằng khác!, – tôi quả quyết một cách
bốp chát.

Và tôi bỗng dưng không tin vào tai mình khi nhớ lại nụ
cười lạc quan của ông Nhỏ bán nước chè ngày nào ở chợ �?Ki-lô-mét số
bảy’ của thành phố Odessa. Với tốc độ làm tiền và kỷ luật sống như ông
ấy trong lần gặp năm 2009, tôi nhẩm tính mỗi năm ông ấy cũng phải để
dành được ngót vài trăm triệu, có bét nhè thì cũng dành dụm được dăm chục triệu mỗi năm. Vậy tiền ông tiết kiệm được đi đâu?
Bà Bé nói như chọc vào chính tôi, bởi tôi cũng chẳng có cái sổ hưu
nào cả. Có mười sáu năm làm việc cho nhà nước, có đóng bảo hiểm nhưng
tôi cũng chẳng màng nghĩ là sẽ phải lấy cái sổ hưu.

Thế đấy, cả
đời “chỉ cần lo cái sổ hưu”! “Cái sổ hưu là cái bảo lãnh”! Ấy thế mà
thiên hạ thì cứ đua nhau làm giàu, sắp chết vẫn hà tiện, vẫn tranh chấp,
vẫn mơ giàu có hơn người. Có phải ai cũng biết dừng lại ở cái sổ hưu
như bà Bé đâu. Còn như tôi thì đến cái sổ hưu cũng chẳng màng tới. Đó là
tôi nghĩ bụng mà không nói ra.
Chúng tôi ăn cơm với riêu cua đồng nấu với rau muống đầu mùa, vừa mềm
vừa ngọt.
Ngon tuyệt vời!

Món này quê tôi cũng có nhưng người ta làm thì
không ngon được như ngoài bắc. Bí quyết công nghệ chỉ ở chỗ cách sử dụng
gạch cua đồng mà thôi. Ngoài này người ta xào sốt gạch cua với hành,
hoặc với cà chua, sau đó thả nổi lên bát riêu cua làm cho món ăn vừa
ngọt, vừa ngon, vừa ngậy lại vừa đẹp mắt.

– Đúng là món quê hương mà tôi thích. Chị quả là khéo!, – tôi khen thật lòng.

– Tôi biết mà, các anh bên đó ở chỗ toàn băng tuyết, con cua sống sao
nổi mà để có
riêu cua, bún cua. Anh nói ông Nhỏ có dành dụm được tiền? Tôi cũng nghe
phong phanh vậy khi ông ấy chưa về. Còn khi về thì ông ấy dở khóc dở
cười, không nói nổi nửa câu để cho tôi hiểu ngọn ngành. Thì tôi cũng có
mong ngóng gì tiền của ông ấy nữa đâu. Chỉ mong ông ấy có cái sổ hưu cho
đỡ khổ về già thôi.

Tôi định vặn vẹo bà Bé đôi câu nhưng nghĩ kỹ
lại thôi, bởi chuyện riêng tư, hơn nữa lại
là chuyện tiền bạc mà cứ “đào bới” thì e mất lịch sự quá. Cái chính là
tôi muốn biết thêm kiến thức từ một “giáo sư” chân quê như ý định ban
đầu thôi.

Đoạn tôi hỏi bà:

– Theo chị thì sai lầm của ông Nhỏ ở chỗ nào, bởi hơn ai hết chị là người hiểu ông
ấy?

– Ông nhà tôi, mặc dù sống với nhau chẳng được bao nhiêu,
nhưng cái chính mà tôi
hiểu là ông ấy quá dễ dãi với mọi người, và cũng từ đây mà nảy sinh lối
sống vô tâm, sống hời hợt đến mức vô kỷ luật. Tôi yêu ông ấy ở cái tính
dễ dãi thì giờ phải trả giá vì cái đó. Các giá trị nếu muốn có thì đều
phải trả giá, có điều giá cả phải trả là khác nhau. Ông ấy không lười
lao động, nhưng lao động hời hợt. Nếu lao động mà không theo đuổi mục
đích chính đến cùng thì cũng vô ích. Có thể những năm gần đây, sau khi
về phép ông ấy có kỷ luật hơn, nhưng tính dễ dãi của ông ấy có thể dẫn
đến việc bị người ta lừa gạt. Chưa biết chừng, có thể ông ấy “dại gái”.

Trong năm năm qua, sau lần về phép năm 2007, lần đầu tiên ông ấy gửi 30 triệu
về để mua cho cháu chiếc xe máy, mà đó cũng là do tôi yêu cầu, bởi vì
cháu đã lớn, đi học xa phải có xe. Nếu ông ấy gửi về 300 triệu thì bây
giờ đâu phải vào tận miền tây làm công. Với 300 triệu tôi đủ khả năng
tạo việc làm cho ông ấy tại đây. Cái quán ăn này, ngoài đất đai ra, đầu
tư chưa đến 50 triệu. Ba trăm triệu là cả một tài sản lớn.

Gần
đây nhiều người đi lao động ở Hàn Quốc về, cũng là lao động hợp tác
nhưng chỉ ba năm, khi về nước người ta xây nhà tầng, mua xe tải, kinh
doanh sôi nổi cả một vùng quê. Tất cả họ bỗng dưng chán ruộng… Còn ông
ấy ở bên đó cả một phần tư thế kỷ! Có nhục không?

Tôi thấy chát nơi cổ họng khi thấy những chân lý giản đơn này mình cũng mơ hồ quá lâu.
“Ba trăm triệu là cả một tài sản lớn!”, “Có nhục không?” – những lời nói của bà Bé như xé nát trái tim.
“Xây
nhà tầng”, “mua xe tải”, “kinh doanh sôi nổi…”, “Bỗng dưng chán ruộng…”
– toàn những từ vừa quen vừa lạ… Quen bởi vì không phải lần đầu biết từ
này, lạ là vì nó phản ánh cuộc sống nông thôn ngày nay đã khác xa ngày
xưa rất nhiều…

Ở bên đó tôi cũng chưa bao giờ hình dung ba trăm
triệu có ý nghĩa lớn lao như thế. Đó là cỡ mười lăm ngàn đô la, là
khoảng thời gian dành dụm độ dăm bảy năm làm việc cật lực và biết tiết
kiệm, nếu biết sống có kỷ luật. Thảo nào những người như cậu Phúc mới
sang đã làm chủ được cuộc sống, sắm ô tô, tạo việc làm ổn định, lại còn
giúp đỡ được ông Nhỏ vào thời điểm tôi đến thăm ông ở Odessa. Chẳng qua
cậu ấy hiểu được giá trị của đồng bạc bên đó và ở quê nhà do trưởng
thành trong hoàn cảnh xã hội thị trường, quan hệ tư bản.

– Tất cả bỗng dưng chán ruộng? Thế số người này chán ruộng thì họ làm gì hở chị Bé?, – tôi hỏi.

– Không phải ai cũng tiêu cực.
Và không hiểu sao bà Bé bỗng dưng hạ thấp giọng nói như chỉ để một mình
tôi nghe.
– Một số người khôn ngoan thì họ dùng vốn chuyển sang kinh doanh nhiều
kiểu khác
nhau như vật liệu xây dựng, phân bón và tất cả các loại vật tư nông
nghiệp, đồ dùng gia đình, kinh doanh “thượng vàng hạ cám” để phục vụ
người nông dân từ a đến dét…

Nhưng đó là những người có trí
khôn. Một bộ phận không nhỏ suốt ngày quán xá, cầm đề, đánh đề, cầm đồ
và nhiều dịch vụ vô hình khác… Cũng vì thế mà có người giờ chỉ còn cái
nhà trơ ra, có người thậm chí chưa kịp làm nhà thì tiền đã ra đi… Số này
ít thôi, nhưng họ tạo ra cho địa phương chúng tôi không ít vấn đề về tệ
nạn xã hội. Chẳng hạn như tiêm chích là hiện tượng lần đầu tiên xuất
hiện ở miền quê này, chỉ mới dăm ba năm lại đây.

– Chị uống cà phê nhé, – tôi nói to để lấy lại không khí tự nhiên.

– Cà phê cũng tốt, bởi tôi huyết áp thấp, nhưng tôi thích cà phê nâu.
Ông Nhỏ nhà tôi
ấy cũng do tính dễ dãi thôi, dễ dãi thành ra thiếu ý chí theo đuổi mục
đích, rồi sống buông thả “vui đâu chầu đấy”. Ở đời, ý định chỉ một thì
kế hoạch phải mười, còn quyết tâm phải cả trăm ngàn lần mới được. Nhưng
ông ấy cứ sống buông thả. Thả thì rơi… muốn giữ thì phải nỗ lực, còn
muốn tiến lên thì phải mất sức nhiều hơn nữa, phải khôn hơn, phải có kỷ
luật, còn buông thả thì rơi, thì mất… Ông ấy không biết quản lý được
tiền bạc mình làm ra. Hơn nhau cũng ở chỗ trí khôn “biết làm và biết
giữ”, thì cũng là do có kỷ luật sống thích đáng.

“Thả thì rơi – buông thả thì mất”! Trời, câu nói hay!…
Vừa uống cà phê tôi vừa ngẫm nghĩ. Thời tôi ở nhà, hơn hai mươi
năm trước, chẳng biết cà phê là gì, thậm chí nước chè cũng chẳng có để
uống. Tuổi trẻ cứ múc nước lã uống ừng ực là xong. Hình ảnh đó vẫn cứ rõ
một một trong tâm trí. Giờ thì đủ loại thức ăn, thức uống có bao bì
hiện đại…

Bất giác tôi nghĩ thầm rằng, mình ở tây về nhưng hình
như có vẻ lạc hậu nhiều so với cuộc sống. Tôi cứ tưởng bà Bé, một
người phụ nữ chân quê sẽ từ chối không uống cà phê và đòi cốc nước chè
hay nước chanh gì đó, nhưng không, “cà phê cũng tốt!”, lại còn biết
chuyện “huyết áp cao-thấp, cà phê nâu”… Dân trí quá khác xưa rồi… Chuyện
lô-đề tôi còn hiểu được, nhưng xì ke ma túy ở miền quê thơ mộng này thì

quả thật chục năm sau tôi vẫn không hình dung là hiện thực nếu như hôm
nay không về đây.

Nhìn sang bàn bên, có mấy thanh niên tóc xịt
gôm kiểu bờm ngựa ngồn xổm trên ghế cứ “zô-zô” inh ỏi, vỏ lạc, giấy lau
cứ vứt hoài xuống sàn nhà như vứt xuống bãi rác. Tôi thầm nghĩ, nếu ở
bên tây thì chủ quán đuổi cổ ngay mấy thanh niên này ra ngoài đường từ
lâu rồi, còn ở ta không ai có phản ứng gì cả. Chẳng cần đến chủ quán,
nhân viên bán hàng thôi, họ cũng lôi cổ khách ra ngoài ngay lập tức vì
không chấp hành những đòi hỏi vệ sinh dịch tễ trong quán ăn uống và
chuẩn mực văn hóa nơi công cộng. Đám thanh niên này cũng rất tự nhiên,
cứ như chỉ có họ giữa rừng hoang vậy thôi. Thật khó hiểu trình độ văn
hóa được đo bằng gì!…

Đoạn tôi nhìn bà Bé vẻ thông cảm và nói:

– Nếu quả
thật ông ấy không còn tiền thì chị nên gọi ông ấy về. Tuổi cũng nhiều
rồi,
cũng là lúc cần đến nhau nhất, có gì ăn nấy, việc thì có thiếu đâu, miễn
là chịu khó, giàu có với ai giờ này nữa mà cứ biền biệt tha phương, xem
ra rồi cũng cát bụi cả thôi… Tôi thì đã đành một nhẽ, bởi tôi chỉ có
một mình, lại có máu nghệ sỹ, nay đây mai đó lại làm cho tôi vui vì được
nếm trải tự do, hơn nữa tôi lại cũng có chốn của tôi và độc lập được về
tài chánh… Thế mà đôi lúc tôi cũng thấy tủi vì thiếu hơi ấm gia đình,
hơi ấm của phụ nữ và con trẻ…

– Thì em cả đời cũng lạnh lẽo đó
thôi, nhưng xác định đó là cái giá phải trả, giờ chỉ
biết cầu Trời khấn Phật cho khỏe mạnh và bình an… Còn ông ấy… Tôi biết
làm sao được. Ông ấy mà có ích được cho bản thân thì đã mừng, nhưng cuộc
sống cho thấy ông ấy chẳng có ích gì cho ngay chính bản thân mình thì
còn nói gì có ích cho gia đình, cho vợ con, còn đối với xã hội thì chỉ
là hạt bụi…

Câu chuyện có vẻ như đụng chạm đến những riêng
tư thầm kín bấy lâu của hai người,
thành ra tôi hơi chột dạ. Trong những tâm sự riêng tư này đã bắt đầu gợn
lên những nỗi bực dọc từ lâu được chôn kín trong lòng, nay có cơ hội
lại trỗi dậy và như có chiều hướng bùng phát… “Ông ấy chẳng có ích cho
bản thân mình… Đối với xã hội thì chỉ là hạt bụi!”, – thế đấy, nếu tôi
bắt mạch suy nghĩ không sai thì bà ấy suýt nữa nói “sống cũng vô ích,
thà chết đi cho xong!”.

Linh tính báo cho tôi biết cần phải
“Stop” câu chuyện tại đây nếu như không muốn để bùng phát bức xúc của
một người phụ nữ có chồng nhưng cô đơn suốt phần lớn cuộc đời… Mình đến
đây làm khách không phải vì mục đích như thế, – tôi thầm nghĩ. Và tôi
nói với bà Bé lời chia tay.

– Có lẽ thời gian của chị và tôi
cũng có hạn, đến thăm chị vậy thôi, tôi còn phải về quê.
Nhưng ông Nhỏ hiện ở miền tây thì xin chị cho cái số điện thoại. Tôi sắp
tới cũng vào
trong Sài Gòn, biết đâu có điều kiện anh em sẽ gặp lại nhau trong đó thì
cũng thú vị và cũng biết đâu tôi lại thuyết phục được ông ấy trở về…
Tôi thì chưa về nước hẳn, cứ tưởng ông Nhỏ còn bên đó và thậm chí là
“đại gia” rồi… Chị gọi giúp xe ôm hoặc tắc xi để tôi đi ra bến xe thành
phố. Cám ơn chị rất nhiều.

– Xem ôm thì không có, tắc xi thì để tôi gọi cho. Cám ơn anh đã đến thăm.

Nằm
trên xe buýt rồi tôi mới nghĩ lại câu chuyện với bà Bé. Cứ tưởng câu
chuyện ông Nhỏ mấy năm trước không còn gì để viết tiếp, hóa ra hoàn toàn
ngược lại. Nhiều cái mới cần làm sáng tỏ. Đứa con nuôi thì rõ rồi. Cha
nó là ông Ké, hàng xóm của bà Bé. Cái chưa rõ là số tiền ông Nhỏ bán
nước chè tích cóp được “nhờ có kỷ luật” trong mấy năm qua đi đâu mà trở
nên nông nỗi thế.

Tại sao ông Nhỏ lại trở về tay không? Bây giờ làm
gì, kế hoạch ra sao và có còn sức khỏe nữa không? Không chừng ông Nhỏ
lại dại gái bên đó rồi? Bà Bé cũng nghi hoặc chuyện dại gái… Có thật
thế không?

Chuyến về thăm bà Bé cho thêm nhiều hiểu biết nhưng
cũng lại đặt ra nhiều vấn đề về ông Nhỏ. Đành phải vậy thôi. “Muốn biết
Tào Tháo (ông Nhỏ) sống chết thế nào hồi sau phân giảỉ!” – các chương
trong “Tam Quốc” thường kết thúc như thế. Rõ ràng là tôi phải đi miền
tây một chuyến, tiện thể tham quan “đất rừng phương nam” cho bõ mong
muốn từ rất lâu, hàng chục năm về trước…

Hoàng Xuân Kiểm