Nói là ông Nhỏ nhưng nào đâu có nhỏ. Cũng cao một mét bảy tư như ai cho nên dáng dấp ông Nhỏ cũng không đến nỗi nào. Hỏi tại sao người to mà tên lại Nhỏ thì ông cũng cười xòa cho qua chuyện vì không trả lời được

Đã thế tên vợ ông ấy lại là Bé. Gặng mãi ông ấy mới nói ra tên vợ, tựa hồ như ông quên cả tên của vợ mình. Cái tên cúng cơm chạ mẹ đặt có gì phải xấu hổ khi mà tuổi thì cũng đã khá cao. Còn đâu cái tuổi học trò nữa. Nếu không có câu chuyện mà sau này ông Nhỏ kể cho tôi thì chắc gì tôi nhớ tên vợ ông ấy. Quả thật tôi thán phục người phụ nữ đó lắm. Bản thân tôi cũng không thể hiểu là tôi viết lại câu chuyện này có phải vì ông Nhỏ hay là vì vợ của ông ấy. Tôi biết ông Nhỏ bởi vì chúng tôi cùng là cánh lao động hợp tác tại thành phố Gia-pô-rô-gie ở miền nam U-cờ-ren. Trước khi sang đây tôi giảng dạy đại học sư phạm, còn ông Nhỏ thì làm ruộng. Hồi đầu, vào những năm chín mươi khi mới hết hạn lao động tôi còn hay gặp ông Nhỏ bởi chúng tôi cùng ở lại thành phố đó làm ăn, chưa đi đâu xa. Ông ấy cũng giống tôi ở chỗ hiền lành, thật thà và cũng không hay bon chen với đời cho nên chúng tôi có điều gì đó có vẻ dễ thông cảm cho nhau. Tuy nhiên chúng tôi mỗi người một việc, người nào lo làm lo ăn cho người nấy chứ cũng chẳng phải huynh đệ mà cũng chẳng phải đồng hương. Hơn nữa hồi đó ông Nhỏ cũng chẳng có gì đặc sắc để tôi để ý. Ông ấy quê lắm…

Hồi đầu những năm chín mươi khi hết hạn lao động tôi lập công ty xuất nhập khẩu và làm việc của công ty, còn ông nhỏ thì đi bán hàng chợ. Đến giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 1998 thì chúng tôi giống nhau thêm một điểm nữa là đều lâm nặng nợ. Tôi quyết định bỏ thành phố này ra đi tìm cơ hội mới sau những thất bại đớn đau.

Tôi lên thủ đô tìm việc làm. Hẳn là ở thủ đô thì sẽ có nhiều cơ hội để làm tiền, đặc biệt những cơ hội có thể sử dụng chút ít chất xám hàn lâm và vốn ngoại ngữ của tôi. Nhưng không một xu dính túi như tôi thì hiển nhiên là không dễ dàng chút nào. Bán chất xám là việc không phải dễ trong bối cảnh kinh tế “chộp giật” thành ra tôi đành phải chấp nhận làm công với đồng lương tháng một trăm đô. Ông Nhỏ cũng chẳng khá hơn. Ông đồng ý ở lại và làm thuê cho chủ nợ với lương tháng cũng như thế. Bao giờ tiền lương khấu hết nợ thì tính sau. Điểm này thì chúng tôi lại cũng giống nhau như nỗi đau chung không bao giờ quên…

Và chúng tôi đã bặt tin nhau nhiều năm…

***

Một trong vô vàn lý do mà nhiều người việt thích sống ở U-cờ-ren là khí hậu ở đây ôn hòa. Thế mà mùa hè năm nay nắng chói chang khác thường lại thêm cái oi như ở miền nhiệt đới. Cái nắng, cái oi thỉnh thoảng lại đỏng đảnh kéo về những cơn mưa mà không một tiếng sấm, không một tia chớp nào báo hiệu trước. Chỉ những đám mây nhanh nhẩu, rầm rộ kéo về những cơn mưa đột ngột. Cái kiểu mưa nắng như vậy càng làm cho ta ngột ngạt và khó chịu, đặc biệt là trong hoàn cảnh buồn thiu của các quầy hàng tại các chợ thời khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng kinh tế lần này còn nặng nề gấp trăm ngàn lần so với cuộc khủng hoảng của hơn mười năm trước. Ấy thế mà người việt vẫn bám chợ, chịu đựng mọi vất vả mà thời tiết hà khắc của mùa hè đặc biệt cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế đang dày vò họ từng ngày.

Có thể tôi là một trong số những người việt ngoại lệ của ngày hôm nay có mặt trên bãi biển Ô-đét-xa xinh đẹp và thơ mộng bởi tính vô tư và bàng quan như không hề có cuộc khủng hoảng nào cả. Trong mùa hè với thời tiết như vậy thì biển Odesa quả là một sức hút nam châm khó mà cưỡng lại được, đặc biệt với những ai có chút ít tâm hồn lãng mạn.

Và cứ thế một ngày nữa đã qua, một ngày mới lại đến. Thời gian như tuột khỏi tay của chúng ta. Vốn năm tháng của chúng ta lại cạn kiệt dần mà chẳng ai hay. Thấm thoắt tôi cũng đã trở thành một ông già… Cần phải tranh thủ ra chợ “Ki-lô-mét số bảy”. Người U-cờ-ren vẫn hay nói “phải kết hợp cái khoái với cái hữu ích” mà. Vậy thì xem dân tình ở cái thành phố nổi tiếng trong cộng đồng ta làm ăn ra sao. Đọc báo cộng đồng “DN.Odesa” thì cũng biết cái cộng đồng này mạnh rồi. Có “Hội đồng hương” che chở pháp lý, có cảng cung cấp hàng hóa và bà con ta chỉ việc chăm chỉ là có thu nhập, thậm chí thu nhập cao, có nhiều ô-tô đẳng cấp. Biết rồi nhưng vẫn phải xem để học, để biết, để “kết hợp cái khoái với cái hữu ích”.

Thế mà cuộc tham quan của tôi lại biến thành cuộc hội ngộ khác thường. Số là tình cờ tôi lại gặp ông Nhỏ ở chợ. Trời!… Bấy nhiêu năm rồi… Gặp ông Nhỏ tôi muốn khóc… Trông ông gầy gò và già thế! Tôi nhiều tuổi hơn ông Nhỏ thì trông tôi già đã đành rồi. Mà tóc tôi đã bạc thì già là hợp lý. Còn ông Nhỏ xấp xỉ năm mươi, tóc chỉ hoa râm nhưng khẳng khiu và lại đen ngỏm như cây củi dài ngoẵng. Thương ông quá! Tính tôi là thế. Chẳng thương thân mà cứ thương người. Hai đứa ôm nhau trong bao nỗi nhớ niềm đau mà cuộc sống tha phương và năm tháng đã nhân lên như vô tận…

   – Nước chè hay cà phê đây? – Ông Nhỏ mời tôi.

   – Trời! Em bán nước chè? – Tôi hỏi ông Nhỏ với vẻ ngạc nhiên. Nghe người ta nói đồn em làm nông nghiệp ở đâu đây cơ mà?

   Đoạn ông Nhỏ thủ thỉ:

   – Nuôi lợn thuê thôi mà. Cách đây một năm rồi. Kết quả cuối cùng thì cũng về số mo. Em làm hai năm mà vẫn không một xu lương dính túi nên em nhờ Hội giúp tạo điều kiện đi bán nước chè có kết quả hơn. Anh bây giờ làm gì và ở đâu?
 
   – Anh thì cũng có khá gì đâu. Làm thì nhiều lắm rồi. Bán chợ có, làm thuê có, bán nước chè cũng thử rồi và thậm chí còn viết các loại luận văn, làm thơ, viết bài hát, làm quản trị cũng có và gác cổng cũng đã… Đủ cả! Anh không nợ ai nữa. Trả hết rồi và chỉ còn ai đó là ông chủ lại nợ anh thôi. Có điều anh lúc nào cũng phớt đời. Máu nghệ sỹ cộng với máu hàn lâm mà… Thì anh em mình vào quán uống bia để hàn huyên cho bốc nhé.

   – Không được anh ạ! Hẹn anh cuối buổi, độ bốn giờ chiều. Ghi số điện thoại anh đã nào! Bởi nếu em không tiếp tục bán thì công chuẩn bị hôm nay coi như bị toi anh à. Thông cảm cho em vì “cái nghiệp” liên quan “cái thực” mà.

   Câu này ông Nhỏ nói nghe cũng văn hoa làm tôi thấy có điều gì đó khác với chất của ông Nhỏ ngày xưa. Đoạn tôi tạm chia tay với ông: – Thế nhé, cuối buổi em phôn cho anh và hẹn nhau nhé, – Tôi đáp.

***

Tôi với ông Nhỏ cùng đi trên chiếc xe của một người thanh niên việt tên Phúc, lạ hoắc mà tôi chưa hề quen. Về đến nhà ông Nhỏ tôi mới hiểu quan hệ giữa họ với nhau. Té ra họ sống cùng nhau trong phố cho nên thanh niên này thường xuyên làm “tắc-xi” để giúp ông Nhỏ giảm chi phí xe cộ hàng ngày. Thế đấy! Cũng là một kiểu tương trợ từ thiện của bà con xa xứ. Thanh niên này mới sang bốn năm nhưng nói năng xởi lởi và rất tự tin.

   – Các anh nhiều tuổi rồi, lực bất tòng tâm, – anh ta nói. Các anh theo được chúng em thì mệt lắm. Ngay cả như anh Nhỏ ngày nào cũng cố thu nhập năm mươi – bảy mươi đô mà em vẫn phải giúp chở đi làm. Chưa đủ cơ số năm mươi đô thì anh Nhỏ chưa về. Em tuy mới sang nhưng hầu như không mất thời gian nhập cuộc. Anh Nhỏ hai mươi năm ở đây rồi nhưng nhiều thứ còn lúng túng lắm.

        Nghe Phúc nói về ông Nhỏ mà tôi chột dạ như chính nói về tôi. Nhưng đó lại là sự thật. Tôicũng chẳng hơn gì ông Nhỏ. Nhưng tôi có tính bao giờ cũng vô tư thừa nhận sự thật và không tranh cãi hoặc phản ứng mỗi khi người ta nói đúng. Đó cũng là đức tính làm cho mọi người quý mến tôi.

   Trong bữa cơm chiều “bốc bia” chúng tôi hàn huyên đủ chuyện từ quá khứ lao động hợp tác quốc tế xa lắc cho đến khủng hoảng hiện tại, từ chuyện riêng tư cho đến chuyện cộng đồng. Ông nhỏ đổi thay cũng nhiều, tự tin hơn tôi tưởng. Cái gì đó căn bản nhất đã đổi thay trong con người cao cao nhom nhom này rồi nhỉ? Tôi tự hỏi mà chưa rõ câu trả lời.    
   Bỗng nhiên ông kể điều mà chính ông đáng hổ thẹn.

–    Em về phép sau 20 mươi năm và chẳng còn nhớ ngõ của nhà mình nữa. Mọi thứ đã đổi thay không thể tưởng tượng được. Nhà mình mà phải hỏi dân xóm xem ngõ ở đâu. Họ cũng chẳng nhận ra mình là ai nên nhiệt tình lắm. Dân quê em hiếu khách là thế. Một bà già không nhận ra em nhiệt tình nói:

–   “Nhà con Bé mãi cuối xóm kia. Thằng cu Cuội, mày lại đây dẫn khách về cho mẹ mày kìa”.

   Em nghe điều này mà choáng quá! – Ông Nhỏ thảng thốt.  Té ra vợ lại đã có con. Thằng nhỏ này đây. Trời… Với ai?…

 – Ông Nhỏ kể tiếp: – Té ra là chờ em 20 mươi năm không được cô ấy nuôi đứa con nuôi. Trước khi đi lao động vợ chồng mới cưới vài năm nào kịp có con. Thì khi đó em cũng 30-31 tuổi, muốn có con lắm. Em cũng không ngờ mình đi biền biệt, không thư cũng chẳng từ  để lại cho cô ấy bao nhiêu đau đớn trong cô đơn và thầm lặng.

Tôi nói chen vào. Hai mươi năm trời trôi qua như cả một cuộc đời rồi con gì? Thế em làm thẻ cư trú bao giờ vậy? Năm hai linh ba anh đã giục em làm theo luật rồi cơ mà?

   – Năm đó em cũng biết vậy nhưng chẳng có xu nào thì làm gì được, – ông đáp. Dù theo luật định thì cũng phải có chút lót tay thì người ta mới làm cho. Mãi sau này khi chăn lợn thuê ở Odesa không kết quả gì thì cái Hương “Gia-pô-rô” nó cho tiền và làm toàn bộ “vít” cho em để về phép đó chứ. Nó làm cho mấy người nhưng có thu đồng dịch vụ nào đâu. Nhà nó còn cho người ta ở không thu tiền thuê nữa là…

   – Hương Quý hả? – Tôi hỏi lại bởi ở Gia-pô-rô-gie có nhiều Hương.

   – Thì đúng vậy. Thế em mới về phép được đó. Uống nữa nào! Anh uống với em một vại này chúc mừng em đổi đời nhờ “quả” về phép nè!

   – Đổi đời? Quả thực tôi chưa hiểu hết ý nghĩa mà ông Nhỏ hàm ý trong chữ “đổi đời” ông vừa nói ra. Thế đấy!
   Thế đổi đời như thế nào ông kể nghe xem nào?

Nói cho oai vậy thôi. – Ông Nhỏ hạ giọng. Thực ra về phép thấy gia đình vất vả thành ra xấu hổ lắm. Ban đầu em định không nỡ lòng nào mà đi bước nữa qua đây. Em nói với vợ có qua lại đây mà không vốn liếng chắc gì đã lại trở về được nữa. Thế rồi vợ em vặc lại. “Nếu anh thương em thì anh đã không ở biền biệt bên đó lâu vậy. Đằng này anh lại về tay không sau ngót hai mươi năm biền biệt. Em chẳng thể hiểu những năm tháng đó anh làm gì! Em không cần anh phải khai báo nhưng đó là cả cuộc đời của chúng ta anh có biết không? Bây giờ cả anh và cả em đều kiệt sức. Năm tháng cuộc đời xem như gần hết. Chúng ta đều ngót nghét năm mươi cả. Những năm tháng vợ chồng cần gần gũi để hạnh phúc bên nhau, sinh con đẻ cái xem như cũng tuột tay… Còn gì nữa mà anh tiếc? Anh là đàn ông thì phải làm một cái gì đó gọi là đàn ông đi chứ”.  Nói rồi vợ em ôm chặt lấy em thút thít…Em ôm vợ vuốt vê nhưng trong lòng cảm thấy xấu hổ và thương vợ như chưa bao giờ thương…

Thấy ông Nhỏ chảy nước mắt tôi đề nghị: – Nào chúng ta uống một ly rượu vì những người đẹp của chúng ta biết cam chịu, biết hy sinh vì “sự nghiệp” của chồng. Nào, uống đi nào! Tính tôi thì cứ là phụ nữ thì tôi gọi là “người đẹp”, bất kể tuổi tác. Thành ra nhiều khi cũng vui vì cách gọi này.

Đoạn để tiếp tục nghe chuyện ông Nhỏ tôi hỏi: – Thế sau câu chuyện đó làm sao mà với hai bàn tay không em vẫn quyết tâm trở lại đây?

Thế thì mới có chuyện em đi đổi đời! – Ông Nhỏ trả lời. Vợ em nói. “Có biết bao nhiêu người trên thế gian này đổi đời từ tay không. Thượng đế đã cho ta cuộc đời và cho tất cả để sống. Chẳng qua mỗi người bao biện bệnh lười nhác của mình một kiểu mà thôi. Em cũng tay không mà nghĩ như anh thì làm sao em sống nổi qua những năm tháng vắng anh với biết bao biến động xã hội. Anh có tất cả vốn liếng trong tay nhưng anh không chịu sử dụng nó để làm cho cuộc sống hạnh phúc”. Nghe vợ nói vậy em im thít. Sợ vợ mắng thực sự. Cả đời bây giờ mới biết sợ vợ mắng đó anh ạ. Có tật giật mình mà. Thật tình em cũng chưa hiểu vợ nói “có tất cả vốn liếng” nghĩa là sao. “Vợ em bảo có bốn thứ vốn người ta ai cũng có sẵn đó là cơ bắp tức cũng là sức khỏe. Cái vốn thứ hai là năm tháng cũng có nghĩa là thời gian cuộc đời. Cái vốn thứ ba là khả năng nói, nghĩ, học và thu lượm thông tin. Cái vốn thứ tư là những quan hệ bạn bè, những quan hệ xã hội cần phải thiết lập và cần phải có trong cuộc sống. Quan hệ xã hội cũng là cái vốn, cái tài sản của anh, do anh làm ra. Không ai sống cô đơn một mình như ở hoang đảo cả. Đấng tạo hóa không sinh ra một mình anh mà cả nhân loại. Không có bất kỳ một người giàu nào tự nhiên sinh ra. Họ phải lao động cật lực để tạo ra tất cả, thậm chí khi có tài sản lớn rồi họ cũng không nghỉ tay. Anh cũng có đầy đủ những thứ vốn đó của Tạo hóa, cũng giống như ở bao nhiêu người khác nhưng anh không chịu sử dụng chúng hợp lý và hoặc sử dụng không có kỷ luật”.

Nghe đến những chân lý vợ nói ra em không còn cách nào khác là phải xin lỗi vợ. Em nói với cô ấy: – “Anh có lỗi với em nhiều quá! Em tha thứ cho anh và hãy cho anh cơ hội để làm lại. Quả thật, anh chưa hề nghĩ là mình có tất cả những công cụ của Đấng tạo hóa trong tay. Anh đã không sử dụng đến những thứ đó để làm cho em hạnh phúc. Anh đã đánh mất không những sức khỏe mà cả năm tháng thời gian quý giá của cuộc đời chúng ta”.

Thực tế đúng như vợ em nói thật. Vợ em nói nhiều chuyện mà chính em cũng không ngờ là cô ấy lại thông minh đến thế. Chả trách cũng những năm tháng đó cô ấy làm được nhiều việc. Cái nhà gạch thay vì cái nhà vách trước đây cũng cô ấy làm nên. Mọi chuyện gia đình nội ngoại cô ấy lo hết. Bây giờ lại kiêm làm cán bộ xã. Mình đúng là thằng ăn hại và vô tích sự.

Thế là em quyết sang đây và sử dụng mọi khả năng còn lại để làm việc. Bán nước chè thì cũng là việc. Trước hết em cần sử dụng hiệu quả cái vốn cơ bắp, tiếng nói và thời gian. Cộng đồng nhiều khi thương em theo kiểu là “lành đùm lá rách” mà mua của em. Có rất nhiều người tây và ta bán nước chè chứ có phải một mình em đâu. Em còm đi bao nhiêu bởi vì đẩy xe giữa nắng trên mặt sàn bê tông chói chang. Ngày nào thì cũng phải bán hết nước nóng đã chuẩn bị. Có hôm chờ đến người cuối cùng mới bán hết.

Thế khi ra đi vợ em có dặn dò gì không? – Tôi hỏi ông Nhỏ. Và ông thành thật kể.

Vợ em chỉ dặn em là đừng chờ vốn liếng ở đâu mà hãy sử dụng cái vốn Tạo hóa cho và hãy nỗ lực tối đa bởi vì cái vốn thời gian đã cạn kiệt rồi mà vốn sức khỏe cũng chẳng còn bao nhiêu. Ban đầu phải làm nhiều tiêu ít. Không được tiêu quá mức thu nhập có thể cho phép để có thể dành dụm cho ngày mai. Mỗi khi chi tiêu thì phải biết đắn đo: – Cái gì thiết thực cái gì không thiết thực cho bản thân, so với mình chớ so bì với người khác. Tục ngữ nói “bảy lần đo một lần cắt”. Tiền mình làm ra thì mình có quyền tiết kiệm tiêu pha. Chỉ bằng cách chi tiêu vừa đủ thì mới hy vọng tích lũy bằng người. Và em làm đúng bài vợ dặn. Có vậy thôi. Vợ em nói trình độ làm ăn sơ đẳng nhất là làm công và tích góp. Đến một ngày nào đó số góp được sẽ to lớn ra thì mới mong tiến đến trình độ hai cao hơn là dùng chất xám bắt tiền làm ra tiền. Ta hiểu là quản trị kinh doanh, bắt vốn làm ra tiền. Nhưng cái mà em hàng ngày phải tuân thủ lời vợ dặn là “kỷ luật”. Em liên hệ với quá khứ thì chính điểm này mới là nguyên nhân của cái nghèo. Mình thiếu kỷ luật quá. Mình đã nhiều năm buông lỏng kỷ luật sống, kỷ luật lao động, kỷ luật tiêu tiền và kỷ luật quan hệ…. Vui đâu chầu đấy để lãng phí thời gian và sức khỏe thành ra không đạt được mục đích.

   – Tức là sẽ đến ngày “lượng sẽ biến thành chất”! – Tôi chêm vào cắt lời ông Nhỏ vì hứng lên bởi cái triết lý vừa nghe. Hay, hay quá! Tôi trầm trồ. Quả là một đúc kết chí lý cho những ai hay tìm lý do của cái nghèo. Chả trách người ta nói “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tại đua đòi tiêu tiền không cân nhắc, không có kỷ luật cho nên nghèo suốt đời. Làm gì có “lượng” mà biến thành “chất”.

   – Nếu là tiền ăn cắp hoặc ai đó cho thì tính sao? “Làm ăn” kiểu đó thuộc trình độ nào nhỉ? – Phúc hỏi một cách độc đáo.

   – Chịu rồi, – ông Nhỏ lúng búng.

Trong đầu tôi tự nhiên lóe sáng một câu trả lời cũng không kém tính độc đáo. Tôi đành nói nửa đùa nửa thật: – Tôi nghĩ nếu là tiền ăn cắp hoặc bịp bợm mà có, không phải tự mình lao động làm ra thì cứ gọi là “trình độ động vật”. Thì vợ ông Nhỏ đang nói về lao động cơ mà. Con vật thì chỉ biết hái lượm cái có sẵn thôi chứ. “Lao động” bằng cách đánh cắp của người khác, hoặc là bịp bợm ai đó để chiếm hữu tài sản thì cũng thuộc trình độ động vật. Con vật chỉ biết hái lượm và lao động biến con vật trở thành người cơ mà?

   – Thế em có định năm nay về phép hay không? – Tôi hỏi để thăm dò vốn liếng của ông Nhỏ trong gần một năm làm việc bươn chải có khá lắm hay không.

– Kể thì cũng có thể về phép được, – Ông Nhỏ giãi bày. Nhưng mới trở lại có một năm cho nên cố chịu đựng cho vững chãi đã. Bao giờ có năm bảy chục ngàn rồi hẵng tính. Hai mươi năm phung phí thế là đủ rồi. Bây giờ phải cố làm bằng hai mươi năm. Sám hối cũng chẳng được. Chỉ có nai lưng làm thì mới mong trả món nợ hai mươi năm qua. Nào ta lại tiếp tục uống một ly nhé. Dù sao em cũng tự vươn lên được là đáng mừng rồi.

Chúng tôi tiếp tục uống cho đến tối mít. Riêng tôi thì không thể quên được những gì ông Nhỏ kể. Một người việt thầm lặng, cả nể và không biết bon chen như ông Nhỏ trước đây bây giờ là một người đã đổi thay trở thành người mạnh dạn, tự tin và chủ động. Thảo nào mới đây thôi, khi đang ở chợ  “Ki-lô-mét số bảy” tôi đã thấy ông Nhỏ tự tin và khác trước. Té ra là người vợ chân quê đã tiếp sức cho ông Nhỏ như thế. Hai mươi năm lầm lỡ và chỉ một năm đã đổi đời!

***

Mãi đến bây giờ, khi tôi viết lại câu chuyện này để tham gia cuộc vận động “Viết về cộng đồng” do báo “DN-Odesa” tổ chức mà tôi vẫn còn ngạc nhiên, thậm chí say sưa về những điều tôi nghe được từ ông Nhỏ. Những chân lý ông nói lại không phải là của một vị giáo sư nào cả, không phải ở trường đại học nào cả mà là của một người nông dân, của một người phụ nữ chân quê thầm lặng ở nơi quê hương xứ sở xa xôi. Tôi thậm chí không bao giờ có thể nghĩ là người phụ nữ như thế có thể dạy mình những điều triết lý đại loại như vậy! Ngẫm mà thấy xấu hổ. Người ta nói “càng học nhiều càng thấy mình dốt” là vậy.  Chính tôi cũng thiếu cái bằng tốt nghiệp “đại học đường phố” mà xét về mục đích làm tiền thì so với cái bằng “hàn lâm viện” nó lại có hiệu quả hơn nhiều trong hoàn cảnh làm ăn kiểu “chộp dật”. Nhớ ngày phá sản công ty hơn mười năm trước tôi cũng nghĩ “có bột mới gột nên hồ” mà. Tôi cứ đinh ninh là phải có vốn. Té ra vốn liếng chúng ta ai cũng có nhưng không biết sử dụng chúng cho hợp lý và có kỷ luật thì cũng bằng không… Thế đấy, làm và góp…, bốn cái vốn…, cơ bắp…, thời gian có bốn mươi năm của cuộc đời có thể làm việc hiệu quả…, khả năng tư duy – học – tiếp thu, quan hệ xã hội… Thì cũng đơn giản và đẹp như mọi chân lý khoa học nhỉ? Vừa viết tôi vừa khoái chí lẩm bẩm như học thuộc để đi thi.

Stop!… Còn gì nữa không nhỉ? Không được tiêu xài quá mức thu nhập cho phép… Làm và góp để đến một ngày “lượng sẽ biến thành chất”! Cái ý này hay! Các ông chủ sở dĩ có thể bắt tiền làm ra tiền là vì ban đầu họ cũng góp từ cơ bắp của họ cho đến ngày có vốn đủ lớn! “Tiêu tiền” nhưng không “xài tiền”… “Bảy lần đo một lần cắt”… So với mình nhưng không so bì với người khác… Vừa làm vừa góp để có một ngày lượng sẽ biến thành chất…nhờ chất xám… Đơn giản thật! Bắt tiền làm ra tiền?

Stop!… Suýt thì tôi quên cái quan trọng nhất trong tất cả cái quan trọng. Đó là cái “kỷ luật”. Trời… Kỷ luật sống, kỷ luật ăn, kỷ luật ngủ, kỷ luật làm, kỷ luật tiêu tiền… Tóm lại là nếu không có kỷ luật thì chẳng thể đạt được mục đích. Đúng không nhỉ?

Và ngày mai ở chợ “Ki-lô-mét số bảy” từ sáng sớm tinh mơ tôi lại thấy ông Nhỏ hoa râm, người nhom nhom khẳng khiu và rám nắng cong lưng đẩy chiếc xe bán nước rất có kỷ luật từ sáng đến chiều. Nhìn ông tôi lại nghĩ về người phụ nữ thầm lặng ở một làng quê xã xôi mà vì người đó ông Nhỏ đang làm việc với một tình yêu và sám hối, với niềm tin và nụ cười trên môi.

Đọc thêm: Gặp gỡ tác giả ‘Chuyện ông Nhỏ đổi đời’ ở đây
                  “Chuyện ông Nhỏ đổi đời (Phần II)
                  Cùng tác giả: “Ba mươi xu đồng bạc trắng”

Hoàng Chi Lan

»Cùng chủ đề