Hạnh phúc của ngày trở về lớn đến mức nữ nghệ sĩ Hoàng Lan, người Việt Nam duy nhất hát opera tại Paris, luôn tâm nguyện, năm nào cũng phải quay về ít nhất một lần, để không còn phải sống ở một nơi mà hồn treo xứ khác.

<!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; mso-header-margin:.5in; mso-footer-margin:.5in; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} -->

Bà là một
người phụ nữ Việt, dù gần trọn cuộc đời sống ở nước Pháp, xa quê mẹ tới mấy
chục giờ bay. Người phụ nữ ấy, dù ở đâu vẫn vậy, dịu dàng, nền nã và thường
mang tâm trạng hoài cổ.

1. Những ngày cuối thu, Hà Nội nắng rất nhẹ và bà nói đó là cảm giác thật khó
thấy khi bà ở Paris.
Có thể trong suốt mấy chục năm sống ở khu Arcueil, quận 13 Paris, bà đã luôn
mong có ngày được gặp gỡ Hà Nội ở trạng thái này.

Tháng 10 vừa qua bà về Hà Nội dự thi cuộc thi kể chuyện về đạo đức Hồ Chí Minh.
Rất nhiều kiều bào ở khắp các châu lục cũng đã trở về, để kể lại những tâm tư
của mình, những kỷ niệm, những bài học, những trải nghiệm sống từ những bài học
của Bác.

Nghệ sĩ Hoàng Lan lên sân khấu vừa kể chuyện về Bác Hồ vừa hát dân ca và hát
“Lời Bác dặn trước lúc đi xa”. Khán phòng như lặng đi. Tình cảm, khi
ấy, không thể là sự gượng ép. Nó là sự lan tỏa trực tiếp. Và bởi câu chuyện tuy
giản dị nhưng được kể bằng tình cảm thực sự của một người con xa xứ. Kể chuyện
xong bà khóc.

Cảm giác như một thứ tình cảm được nuôi dưỡng quá lâu và rồi một ngày mọi thứ
vỡ òa. Ra ngoài hành lang, bà nói, chuyến về Việt Nam lần này với bà có quá nhiều ý
nghĩa. Không phải là được đi thi, được giải thưởng, mà là bà được trở về nơi mà
bà ao ước. Bà đi thăm những nơi di tích kháng chiến, những nơi mà Bác đã sống
và làm việc.

Tới hang Pác Bó, người ta chỉ cho bà một cây ổi và nói đó là cây khi xưa Bác đã
hái để nấu nước uống, khi không có trà dùng. Bà cảm giác như trái tim mình nhói
lên. Không hình dung được người Cha già của dân tộc đã sống những ngày vất vả
như thế. Bà là một đứa con xa nước, sống trong trạng thái của người luôn ngưỡng
vọng về đất mẹ trong nhiều năm, để rồi mỗi câu chuyện nhỏ được kể lại cũng
khiến bà rưng rưng.

Bà nói, chỉ trong một tuần ở Hà Nội, bà đã được vào gặp Bác hai lần, lần nào
cũng cảm thấy lòng nhẹ nhàng hơn. Khi nghe bà nói, tôi cảm giác bà không có ý
định nói sáo để lấy lòng người nghe hay để nhằm một điều gì đó, tô hồng bản
thân với báo chí. Chỉ đơn giản là bà nói về những cảm giác của mình. Vậy thôi.

2. Trong ký ức nghệ sĩ Hoàng Lan, dường như chuyến tàu đưa bà rời Việt Nam năm
1962 vẫn là chuyến tàu ám ảnh. Bà, khi ấy là cô bé 12 tuổi, theo ba mẹ dẫn các
em lên tàu, rời cảng Sài Gòn để bắt đầu đi đến một nơi mà chưa ai hình dung
nổi.

Nước Pháp khi ấy vẫn là một vòng quay xa xôi mà ai ở Việt Nam cũng chỉ là
lờ mờ đoán định. Như cô thiếu nữ trong tiểu thuyết “L’amant” của
Margurite Duras, đứng trên chuyến tàu rời cảng Sài Gòn, mà nhớ về thành phố
này, với biết bao tâm trạng: câu chuyện tình yêu, nỗi buồn, những mất mát, sự
sẻ chia, cả những nỗi dằn vặt khôn nguôi.

Tất nhiên, nghệ sĩ Hoàng Lan không phải là cô thiếu nữ ấy. Nhưng cô bé 12 tuổi
đã khóc ròng trên chuyến tàu dài ngày trên biển, bởi cô đã buộc phải dứt khỏi
những gì thân thuộc.

Chuyến tàu đã mang Hoàng Lan khỏi trường lớp, bè bạn, cả những ước mơ thơ bé
nữa. Cô không ao ước được đến Pháp. Mà cả những ngày sau này, cô đã không mong
chờ cuộc sống ấy. Cô đếm từng ngày mình rời Việt Nam, đặt chân tới Pháp và từng lá
thư gửi về cho người thân, bạn bè.

“Đếm đến chẵn hai năm thì thôi, buộc phải quên đi để hòa nhập và cũng vì
cuộc sống của gia đình nơi xứ người còn bộn bề vất vả”, bà tâm sự. Nghệ sĩ
Hoàng Lan là chị cả của 9 đứa em phải lo toan nhiều thứ phụ giúp gia đình. Và
cuộc sống khốn khó đã không làm cho cô bị thui chột. Cô đi học, đi làm, rồi đi
hát, trưởng thành trong một nơi mà tiếng hát Việt vô cùng nhỏ bé.



 

 

Nghệ sĩ Hoàng Lan cùng với đoàn kiều bào về nước dự thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Ảnh: T.M

Phải đến
năm 1983, Hoàng Lan mới có dịp trở lại Việt Nam, tham gia một bộ phim nhỏ của
đạo diễn Lê Lâm. Vai diễn trong bộ phim ấy gần giống với cuộc đời bà. Một vai
diễn có thể giúp nghệ sĩ rất nhiều trong việc tạo dựng hình ảnh, trở thành một
minh tinh.

Nhưng Hoàng Lan đã từ chối màn bạc. Vai diễn đó như một kỷ niệm nghệ thuật và
nó như một nhịp cầu để nghệ sĩ trở lại với Việt Nam. Cái cảm giác khi máy bay hạ
cánh sân bay Tân Sơn Nhất khiến bà không bao giờ quên.

Khi bà bước chân trên mặt đất này, bà cảm thấy mình như muốn bay, như chưa từng
xa cách, chưa từng phải nhớ về mảnh đất này quá nhiều năm, trong từng giấc ngủ
với rất nhiều nước mắt. Hạnh phúc của ngày trở về lớn đến mức bà luôn tâm
nguyện, năm nào cũng phải quay về ít nhất một lần, để không còn phải sống một
nơi mà hồn treo xứ khác.

3. Sang Pháp, Hoàng Lan tìm mối liên kết với quê nhà bằng sợi dây âm nhạc. Hơn
10 năm bà đóng chính trong những vở cải lương nổi tiếng như “Thái hậu
Dương Vân Nga”, “Trưng Trắc”, “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”…
Rồi bà tham gia Hội người Việt Namtại Pháp vào những năm 70.

Cũng từ đây, bà đã có được những tình cảm sâu đậm với cộng đồng người Việt. Bà
trở thành hạt nhân văn nghệ, hát cho đồng bào mình nghe những bài hát cách
mạng. Đến năm 25 tuổi, bà bắt đầu vào trường nhạc, học kỹ thuật thanh nhạc để
trở thành nữ diễn viên opera.

Hoàng Lan nhận mình chỉ là một giọng ca nhỏ bé trong cộng đồng lớn những nghệ
sĩ biểu diễn opera. Nhưng bà tự hào đã làm và học để trở thành một ca sĩ thực
thụ. Nghệ sĩ tâm sự: “Chúng ta thấy có rất nhiều ca sỹ của dòng nhạc nhẹ,
nhưng để trở thành ca sĩ opera ngoài tài năng còn cần khổ luyện rất nhiều
năm”. Bà phải chấp nhận cuộc sống không danh tiếng, làm nghệ thuật không
màng đến danh tiếng, nên bà luôn vững tin vào sự lựa chọn của mình.

Đã hai lần về Nhạc viện TP HCM biểu diễn, bà cảm nhận rất rõ rằng, người nghệ
sĩ opera là những người biểu diễn cho một lượng công chúng nhất định. Công
chúng ấy phải hiểu môn nghệ thuật ấy thì mới yêu được người nghệ sĩ.

Và công chúng của bà tại Nhạc viện TP HCM đã giúp bà tự tin hơn rất nhiều. Bà
nói, nếu không đi Pháp, bà sẽ trở thành một nghệ sĩ cải lương bởi đây là hồn
cốt Nam Bộ, là nơi bà đã được sống những ngày đáng nhớ nhất của tuổi thơ, là
nơi bà muốn trở về sau rất nhiều năm đi xa.

4. Giờ thì nghệ sĩ Hoàng Lan và chồng, ông Bùi Thanh Tùng, sống ở quận 13,
Paris, nơi bà có thể đi chợ, lắng nghe những câu chuyện của người Việt, mua
được những mớ rau muống tươi non. Hai năm qua, chồng bà đã không phải hàng ngày
lên tháp Effel để làm việc nữa.

Ông là kỹ sư truyền dẫn phát sóng của Đài Truyền hình quốc gia Pháp, gắn bó nhiều
năm trên ngọn tháp nổi tiếng này. Hai năm qua, ông về hưu sớm, lo cho công việc
của Hội Người Việt Namtại Pháp nơi ông làm Chủ tịch.

Còn bà, công việc giảng dạy âm nhạc đã giúp bà có cuộc sống ổn định. Bà nói,
chuyến đi này có quá nhiều kỷ niệm, chắc bà sẽ phải kể… đến Tết mới hết chuyện
và ông xã sẽ cảm thấy vô cùng tiếc nuối. Hai vợ chồng già sống cả đời là đôi vợ
chồng son. Họ coi công việc của Hội Người Việt, công việc của cộng đồng là niềm
vui. Không muộn phiền, cũng không lo lắng. Cuộc sống cứ bình lặng trôi.

Trong nhiều năm qua, bà đã phát hành được hai CD về Việt Nam như “Tiếng
thu” với những bản nhạc của Phan Huỳnh Điểu và “Quê hương” với
những bài hát mang âm hưởng dân ca. Bà cũng phát hành album opera “Tôi yêu
Hạ Long”, với tất cả tấm lòng yêu nước.

Bắt đầu cho những dịp lễ, cho hoạt động của cộng đồng trong dịp Tết Nguyên đán.
Mỗi năm, người Việt tại Pháp coi dịp này để gặp gỡ, sẻ chia và mừng vui đầy
trọng đại. Và bà tự nguyện cùng chồng gánh vác những công việc chung. Nhưng bà
nói, bà sẽ về lại Việt Nam.
Để luôn cảm thấy Việt Namgần gụi như hơi thở, như mùi hoàng lan ngọt ngào của Hà Nội đầy thương nhớ.


theo Công An Nhân Dân