Ngày 5/05/2009, báo chí Đức đồng loạt đưa tin nước Đức lần đầu tiên sau 10 năm sẽ trục xuất 100 người Việt cư trú bất hợp pháp vào đầu tháng 6/2009 này.

Vấn đề cư trú bất hợp pháp của người Việt là vấn đề nổi cộm trong chính sách di trú của Đức và các nước cựu cộng sản Ba Lan, CH Czech và Slovakia (hai nước tách ra từ Tiệp Khắc cũ).

Việc trục xuất người Việt từ lâu vẫn xảy ra, nhưng lẻ tẻ. Lần này tại Đức là trường hợp đặc biệt, vì số lượng nhiều, chở bằng một chuyến chuyên cơ, gây nên sự ngạc nhiên và lo sợ trong cộng đồng người Việt.

Thủ tục trục xuất, theo thông lệ quốc tế, trước hết hai quốc gia liên hệ phải có hiệp định, thoả thuận tư pháp. Thứ đến, quốc gia trục xuất phải xác định, chứng minh được danh tính người bị trục xuất là công dân của quốc gia kia. Sau cùng mới tính đến lý do trục xuất, như cư trú không có giấy tờ hợp pháp, vi phạm pháp luật nước sở tại, v.v…

Với các nước cựu cộng sản Đông Âu và Đức, Việt Nam đã ký kết hiệp ước hỗ tương tư pháp và các thoả thuận về dẫn độ. Cái khó nằm ở phần thứ hai.

Những kẻ tha hương

Có thể chia ra người Việt sống bất hợp pháp ở các nước vừa nêu trên thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất bao gồm hàng chục ngàn người Việt trước năm 1990 đi lao động hợp tác theo ký kết của hai nhà nước. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ (1990) họ không muốn trở về nước, một phần hợp thức hoá được cư trú, nhưng phần lớn gặp trắc trở vì nhiều lý do. Số người này hoặc xin tị nạn (chính trị, nhân đạo) hoặc đánh liều, làm ăn sinh sống ngoài vòng pháp luật, chờ cơ hội.

Liệt vào nhóm này còn có những người Việt sang hợp pháp bằng các chiếu khán có thời hạn  (chủ yếu du lịch, thăm thân), sau đó ở lại luôn nhưng không hợp thức hoá tiếp được giấy tờ.

Nhóm thứ hai là những người vượt biên bằng nhiều đường, chủ yếu đường bộ và nhiều nhất vào thời kỳ 1990-2000.

Trong những năm đầu của thập niên 90, do CHLB Đức tương đối dễ dãi trong việc nhận đơn xin tỵ nạn đối với người Việt hợp tác lao động ở lại, điều kiện trợ cấp xã hội tốt, nên đã tạo nên làn sóng người Việt từ Nga, Ba Lan, CH Czech, Bulgaria và cả từ Việt Nam… tràn sang. Khi đã  qua được Ba Lan, CH Czech, Slovakia, từ đây họ vượt biên giới để vào Đức không mấy khó khăn. Chỉ một số ít trường hợp bị chặn bắt hoặc bị chết đuối khi qua sông.Chưa cần biết tương lai ra sao, nộp đơn xin tị nạn xong, trong khi chờ xét duyệt họ được chính phủ Đức lo cho chỗ dung thân, trợ cấp một khoản tiền (trước khi có đồng euro khoảng 400 Mác Tây Đức) và chữa bệnh miễn phí. Họ được tự do ra ngoài trong một số giờ quy định, nên nhiều người bí mật làm việc lậu kiếm thêm.

Từ tháng 5/2004 Ba Lan, CH Czech, Slovakia, các nước cộng hoà Baltic gia nhập Liên hiệp châu Âu (EU) và nhất là từ 12/2008 gia nhập không gian Schengen đi lại tự do trong hơn 20 nước thành viên EU, biên giới phía Đông trở thành biên giới của EU, được bảo vệ hiện đại và chặt chẽ hơn. Do vậy, số lượng người Việt từ vượt biên hiện nay giảm đi rất nhiều, gần như bị triệt tiêu.

Sau khi nước Đức thống nhất, mặc dù còn rất nhiều khác biệt với phía Tây, từ tâm lý xã hội đến chênh lệch quá cao về mức sống, cơ sở hạ tầng, nhưng Đông Đức nghiễm nhiên trở thành một bộ phận của Cộng hoà Liên bang (CHLB) Đức giàu có và văn minh. CHLB Đức có nền tảng dân chủ vững chắc với hệ thống an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi công dân rất cao, trong đó có chính sách di trú nhân đạo và cởi mở đối với hàng triệu di dân từ nhiều nước. CHLB Đức vì thế ít bị lúng túng, nhưng không phải suôn sẻ với người Việt.

Các nước như Ba Lan, CH Czech, Slovakia gặp khó khăn hơn. Những nước này các cơ quan chức năng giải quyết các vấn đề xảy ra thường nhật cho ngoại kiều trên lãnh thổ mình hơn là có một chính sách di trú nhất quán thành luật. Giải quyết sự vụ di trú ở đây dựa trên các nghị định ban hành của chính phủ, đôi khi còn phụ thuộc vào cảm tính chủ quan của nhân viên thừa hành. Báo chí Ba Lan đã có lần phê phán rằng, khi nhận đơn xin cư trú của một người nước ngoài, suy nghĩ đầu tiên của viên chức Ba Lan là làm sao để từ chối.

Con đường đau khổ

Tôi đã từng phiên dịch cho biên phòng Ba Lan, toà án Ba Lan trong những lần hỏi cung và xét xử người Việt vượt biên qua Ba Lan. Hầu hết họ là những người nghèo, tuổi còn trẻ, rất tội nghiệp. Tâm sự với họ tôi mới hiểu sâu sắc nguyên nhân họ phải bỏ nhà, bỏ nước ra đi với bao đe doạ và một tương lai đầy bất trắc, không giống như họ tưởng tượng trước khi lên đường. Tất cả chỉ vì nghèo.

Chị Lan, quê ở Bắc Giang, hiện vẫn sống bất hợp pháp tại Warsaw, kể lại cho tôi nghe chuyến đi hơn 6 tháng trời của mình. Đến được  Ba Lan, không người quen nương tựa và không có vốn để buôn bán, chị bắt đầu cuộc đời lưu lạc bằng nghề giữ trẻ cho những gia đình người Việt. Lương tháng cho công việc này thông thường từ 400 – 500 đôla /tháng, bao ăn ở, tuỳ theo hoàn cảnh và thiện chí của từng gia đình.

Chị Lan có ba con, chồng là thương binh. Để lo đủ năm ngàn đôla chi cho mối lái, gia đình chị phải cầm nhà và mảnh vườn cho ngân hàng để vay tiền. Chuyến đi của chị có nhiều người. Họ được cấp hộ chiếu với visa du lịch vào nước Nga. Những giấy tờ này phía đường giây chuyển người lo tại Hà Nội dễ dàng.

Sang đến Nga, họ được đón từ sân bay và đưa về Moscow nhốt chung vào một căn hộ chật chội, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hàng ngày họ được cung cấp bánh mỳ, nước uống và nằm chờ cho đến khi có thể lên tàu đi về phía Tây. Tới gần Ba Lan hoặc CH Czech hay Slovakia có người bản xứ ra đón và đưa về một điểm chờ khác, khi có tín hiệu an toàn từ cả hai phía biên giới thì mới được lên đường, lội bộ băng rừng.

Chị Lan và cả chục người Việt khác ở trong một căn phòng rộng khoảng 14-15m2 dưới tầng hầm của ngôi nhà nằm ở mé rừng, lạnh lẽo, ẩm thấp, chỉ có một nơi đi vệ sinh bẩn thỉu. Đàn ông, đàn bà ở chung,  không giường, chỉ có đệm cỏ đặt trên sàn nhà. Ông chủ nấu rượu lậu kinh doanh. Họ trở thành công nhân không lương của chủ nhà trong suốt cả mùa đông. Bởi vì mùa đông tuyết dày, băng giá, rất nguy hiểm nếu băng rừng, lội suối, lỡ chuyến rồi, họ phải chờ tới xuân sang. Bữa ăn hàng ngày chỉ có bánh mỳ suông và nước uống. Khi chị sang được đến Ba Lan tính ra mất hơn 6 tháng, kể từ lúc ra đi, không có liên lạc gì nên cả nhà ở Việt Nam nghĩ rằng chị đã chết.

Tình cờ mới đây, tôi gặp chị Lan đang đẩy một chiếc xe em bé. Thì ra chị vẫn tiếp tục làm công việc giữ trẻ. Chị cho biết sau hơn sáu năm dành dụm chị đã trả xong nợ ngân hàng, gửi được ít tiền về cho chồng sửa sang lại nhà. Nói chung chị cảm thấy bằng lòng với những gì đang có, chỉ nhớ chồng con nhưng không về được. Chị cho biết thêm, chị rất muốn cho cô em qua, mặc dù giá bây giờ cao lắm, cả chục ngàn đôla, nhưng chị nói tính toán ra vẫn chịu được. Ở nhà bây giờ không biết làm gì để sống, tạm xa chồng con mấy năm, sẽ trả được nợ và dư chút đỉnh mang về.

Tôi phân tích những điều bất lợi và khuyên chị đừng nên mạo hiểm vì tình hình biên giới bây giờ rất căng, coi chừng tiền mất, tật mang. Có biết bao người bất hạnh mà chị đâu biết.

Những ngày kiếm sống

Trên đường đi không ít bi kịch xảy ra. Nhiều người chết trong rừng. Đàn bà con gái bị đám người dẫn đường quấy rối tình dục, thậm chí hãm hiếp. Tôi đã chứng kiến cảnh người chồng phát điên lên khi ra chợ trời “Sân vận động X năm” ở Warsaw, Ba Lan, đón nhận vợ thì thấy vợ vác cái bụng chềnh hềnh, chẳng biết ai là bố đứa trẻ trong bụng!

Đặt chân sang được đến đất Ba Lan chưa phải đã thoát, còn hên xui của số phận nữa. Có nhóm bị bắt ngay đưa ra toà xét xử. Thông thường toà phạt giam 3 tháng, có thể kéo dài đến 6 tháng, từ năm 2003 được kéo dài đến 1 năm. Theo luật Ba Lan, nếu trong thời gian ấy phía Ba Lan không xác định được danh tính phạm nhân để trục xuất thì phải trả lại tự do cho họ. Nhưng làm sao để biết họ là ai, từ đâu đến khi trong người họ không một mảnh giấy tờ, tiếng tăm không biết. Chỉ vào lá cờ đỏ sao vàng họ cũng lắc đầu nguầy nguậy. Thế là đến ngày mãn hạn, họ ra tù, tìm cách sinh nhai và có thể bị bắt lại trong một đợt truy quét nào đó. Rồi lại được thả ra. Có người vào ra năm lần bảy lượt, lính gác trại giam nhìn nhẵn cả mặt.

Phamxuan
theo Lời kể của Lê Diễn Đức-người Việt tại Ba