Mr. David P.Thai – Người sáng lập Highlands Coffee vừa được World Economic Forum – Diễn đàn kinh tế Thế giới bầu chọn là một trong hai lãnh đạo doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất Việt Nam năm 2008.

Hai lần khởi nghiệp

Là một Việt kiều sống ở Mỹ, tại sao anh lại chọn con đường quay trở về Việt Nam và đầu tư vào lĩnh vực cà phê?

Nếu nói tôi chọn cà phê để về Việt Nam thì không phải. Tôi theo gia dình sang Mỹ từ nhỏ. Học tập và sinh sống ở Mỹ nhưng tôi vẫn luôn ý thức mình là người Việt, chỉ có những lời nói hành động là của người Mỹ. Rồi tôi tìm học bổng về Việt Nam nhưng cũng chưa có ý định là sẽ học để sau đó sẽ làm gì cụ thể. Tôi học khoa tiếng Việt tại Đại học Bách khoa. Năm 1995 tạp chí Times tổ chức World new tour mời 100 CEO của Mỹ đi thăm các nước chưa phát triển và tìm hiểu các vấn đề như môi trường, con người… trong đó họ có chương trình ở Việt Nam. Tôi may mắn có cơ hội làm phiên dịch cho chương trình đó và thường xuyên giao dịch với các CEO (Chief Excutive Officer – Tổng giám đốc điều hành hay một vị trí quản lý, điều hành cấp cao trong doanh nghiệp).

Rồi tôi được một người trong đoàn đang đầu tư bất động sản tại Việt Nam mời đi ăn trưa và nói rằng tôi là người có tiềm năng và nếu có ý định làm ăn ở Việt Nam thì sẽ giúp. Ông ấy đã đầu tư cho tôi một ít tiền. Có người ủng hộ và có tiền, tôi mới chọn lĩnh vực kinh doanh cà phê. Không ngờ, công việc kinh doanh nhanh chóng thành công với cửa hàng cà phê đầu tiên tại Âu Lạc (hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội). Thế nhưng, mọi chuyện không suôn sẻ. Đúng vào sinh nhật tôi (12/5/1996), chủ nhà đã “hất cẳng” do thấy tôi làm ăn được. Tối đó, tôi nhớ mãi, cả tôi và ông chủ đầu tư ngồi nhìn nhau chả ai nói được gì.

Cái duyên kinh doanh cà phê của một Việt kiều như anh tưởng như sẽ chấm dứt từ vụ đó, rồi sau đó anh làm thế nào để trở lại với lĩnh vực kinh doanh này khi đơn thương độc mã?

Cái khó đầu tiên là tư cách pháp nhân. Lúc đó, làm việc ở Việt Nam nếu không phải là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài thì phải là cá nhân. Năm 1997, tôi quay ra nghiên cứu về Luật đầu tư nhằm tìm lối thoát cho chính mình. Rất mừng là luật này quy định nếu chứng minh được rằng mình là người Việt Nam thì sẽ được đứng tên. Quy định của luật là một chuyện, còn thực tế thì tôi là người đầu tiên đăng ký theo quy định này nên vẫn còn vướng nhiều thứ. Cuối cùng một luật sư đã giúp tôi có được giấy phép. Tôi trở thành người Việt kiều đầu tiên có được giấy phép đầu tư đăng ký thành lập công ty tư nhân tại Việt Nam.

Tiếp theo cái khó về vốn. Nhà đầu tư vốn trước đó đã rút lui vì cho rằng thị trường Việt Nam vẫn còn rất bé, nên kinh doanh cà phê không phát triển được. Ông ấy có nói với tôi rằng, Việt Nam rất khó bắt tay và khó làm ăn lâu dài được.

Trước lời khuyên của “gã khổng lồ” như vậy, anh dựa vào đâu để đặt niềm tin và đi tiếp?

Tôi đã khẳng định là ông ấy sai. Lúc đó, tôi cho rằng thị trường Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng. Lý do, khi quan sát có thể thấy rất nhiều doanh nghiệp Việt tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu chứ không để ý nhiều tới phân phối ở thị trường nội địa. Đó là lý do khiến tôi thấy thị trường nội địa thật tuyệt vời. Còn sự cố kiểu như “hất cẳng” khi thấy tôi có lợi, tôi cho là đó là do một số người chưa có độ “chín” về tư duy làm ăn thời mở cửa. Tôi còn nhận thấy người Việt Nam rất lạc quan, họ có tâm lý sẵn sàng tiếp cận. Và vấn đề của thị trường này chính là thời cơ đã đến, chỉ cần cơ hội là sẽ khác.

Nhờ sống tại Việt Nam, được tiếp xúc với những thói quen, tập quán, hiểu từ điều nhỏ nhặt nhất, tôi biết người Việt từ văn hóa đến thói quen ăn uống của người Việt như thế nào. Hiểu được thị trường này nên tôi quyết định ở lại và đầu tư làm ăn tại Việt Nam. Theo tôi, nếu không hiểu được thị trường mà cứ ném tiền vào đầu tư theo kiểu chạy theo đồng tiền thì sẽ rất mệt và không bền.

Anh có vẻ tự tin về triết lý kinh doanh cà phê tại Việt Nam?

Tất nhiên, vì tôi có thời gian để chứng thực những suy nghĩ này. Lần thứ hai, tôi làm lại công việc kinh doanh cà phê bằng một quán cà phê khác, chỉ là một quán thôi chứ không phải một chuỗi. Nó là tất cả những gì tôi chắt bóp, dành dụm từ cuộc làm ăn trước. Tháng 10/2002, cửa hàng đầu tiên trong chuỗi Highlands ra đời tại TP. Hồ Chí Minh và tới 2003 tôi mở 5-6 cái và năm 2004 thì mở lên tới 15, rồi mở ra Hà Nội. Năm ngoái Highlands Coffee có 6 triệu lượt khách và đóng góp khoảng 65% về giá trị thu nhập cho cả tập đoàn, và đóng góp 95% về tổng giá trị thương hiệu cho tập đoàn.

Khi tôi phát triển mạnh các điểm bán cà phê tại các địa điểm lý tưởng nhiều người đã nghĩ, hẳn tôi phải là một ông chủ rất nhiều tiền hoặc được ai đó tiếp tục rót vốn khổng lồ. Thực tế thì đơn giản hơn nhiều. Tôi đã ứng dụng quan điểm kinh doanh dựa trên cơ sở hiểu biết thói quen, văn hóa người Việt và triết lý kinh doanh riêng mình và nó thành công.


Sau lần vấp ngã đầu tiên, anh đã gây dựng thành công ở lần khởi nghiệp thứ hai, anh có còn điều gì day dứt có thể chia sẻ không?

(Suy nghĩ) – Tôi thấy mình vẫn có điều phải trăn trở. Highlands Coffee đã nằm trong số các doanh nghiệp đứng đầu về tiêu thụ nhiều cà phê Abrabica tại Việt Nam nhưng chúng tôi vẫn chưa điều tra được nguồn gốc của hàng vì phải gom hàng qua nhiều đối tác. Cũng vì thế mà chúng tôi chưa điều tra được điều kiện nhà nông dân cung cấp hàng cho chúng tôi như thế nào? Họ sống ra sao? Con cái họ được đi học chưa?…

Tôi biết, đó sẽ là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần làm gia tăng giá trị của cà phê Việt Nam trên thế giới. Khi giá trị cà phê của Việt Nam được nâng lên trên bình diện quốc tế thì nhu cầu tiêu thụ cũng tăng và cùng với nó là lợi nhuận tăng, từ lợi nhuận tăng chúng ta có thể quay lại giúp đỡ đời sống những người nông dân.

Quan điểm này không phải là hình thức từ thiện nào mà là tâm huyết thực sự và đồng thời đem lại hiệu quả cũng có lợi cho cả kinh doanh và đời sống. Tất nhiên, đời sống nông dân được cải thiện nhờ cà phê sẽ khiến họ ý thức hơn giá trị của trồng cà phê, do đó, chất lượng nguyên liệu sẽ được cải thiện rõ rệt.

Nhưng để làm được điều này trên phạm vị rộng không dễ, nó là thách thức mà cần có sự tham gia của cả nhà nước và doanh nghiệp như chúng tôi.


Chúng ta đứng thứ 2 thế giới về lượng, nhưng chất lượng vẫn còn nhiều điểm yếu, theo anh chúng ta cần làm gì để nâng giá trị cà phê lên?

Ví dụ, gần đây, chúng tôi tổ chức một chương trình giới thiệu chương trình Glue moutain – cà phê cao cấp nhất với giá 75.000 đồng/ly. Chương trình này chúng tôi định thực hiện trong sáu tháng mà mới sáu tuần đã hết hàng. Điều này trái hẳn với tư duy lo sợ giá cao khó bán. Chỉ một cân cà phê xanh mà lên tới 50 USD trong khi những loại cà phê khác giá chỉ 2-3 USD. Từ ví dụ này để thấy, chúng ta cần chuyển hướng phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu.

Nếu chúng ta muốn đặt chân tới những thị trường lớn thì phải chuyển sang Abrabica. Lúc đó, giá trị gia tăng cũng sẽ lớn hơn. Thế mạnh cũ là cà phê Robusta chủ yếu loại hòa tan, loại cà phê cấp hai. Thứ hai là chúng ta cần xây dựng được thương hiệu về cà phê của riêng mình – Vietnam Brand equity.

Sau khi nhà nước chính thức mở cửa hoàn toàn đối với thị trường bán lẻ, từ ngày 1/1/2009, anh đã cảm thấy được “sức ép” đối với công ty anh chưa?

Việc nhà nước mở cửa là tốt. Tôi mong muốn đầu tư nước ngoài vào càng nhiều càng tốt. Bởi tôi nhận thấy điểm yếu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng biết rõ mặt mạnh của họ. Hiện tại chúng tôi không thấy áp lực đối với công ty mình. Thêm vào đó, tôi đang thất vọng vì các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực cà phê của Việt Nam nhưng họ lại áp dụng mô hình giống hệt với mô hình kinh doanh của họ tại nước ngoài. Trong lúc đó, phong cách thưởng thức, văn hóa người Việt về cà phê lại khác. Ví dụ người uống cà phê ở Việt Nam hay ngồi lâu, chứ họ không tới uống rồi đi ngay, hay mua mang đi.

Có ý kiến cho rằng, khi kinh tế thế giới khó khăn, sức mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài giảm, sức mua nội địa cũng giảm, đây có phải là lúc doanh nghiệp “rảnh tay” để đầu tư, xây dựng, nâng cấp hệ thống phân phối của mình không?

Tất nhiên, vì hiện nay khi đối diện với các doanh nghiệp nước ngoài, chúng ta thường bị lép vế, không chỉ về tiền vốn mà còn lép cả về mặt kỹ năng quản lý, chuyên môn, marketing… Người Việt đổ tiền của mình vào các quỹ đầu tư, nhưng bản thân các quỹ đầu tư thì không đặt một câu hỏi rằng, tại sao họ làm cái đó, họ có đam mê với nó không hay chỉ vì lợi nhuận?

Không có nền tảng triết lý kinh doanh thì tiền đầu tư sẽ không bền vững. Bây giờ là cơ hội cho các công ty Việt cấu trúc và nhìn lại mình. Nhớ một điều rằng, trong kinh doanh chỉ đơn thuần là nếu làm ra sản phẩm và bán sản phẩm đó với giá cao thì chỉ là buôn bán, như thế chưa đủ, chúng ta cần có một lý do để làm kinh doanh cho xứng với vai trò là nhà phân phối, đó là phục vụ người tiêu dùng, sao cho họ không chỉ mua hàng mà còn sử dụng sản phẩm đó tốt nhất. Ví dụ với việc bán cà phê. Chỉ bán thôi thì rất đơn giản nhưng cái khác là chúng tôi đang phục vụ bạn chứ không phải chỉ là đưa cho bạn một cốc cà phê.

Được World Economic Forum – Diễn đàn kinh tế Thế giới bầu chọn là một trong hai nhà lãnh đạo doanh nghiệp trẻ Việt Nam xuất sắc năm 2008, anh có chia sẻ kinh nghiệm gì?

(Cười) – Thành công hiện nay không phải vì tôi mà là thành công của hơn 1.700 nhân viên trong tập đoàn. Tôi chỉ làm việc hơn 40 tiếng một tuần – một phần rất bé nhỏ so với các nhân viên. Tôi chỉ đóng vai trò đưa ra định hướng mà thôi.

Mục đích đầu tiên của Việt Thái là muốn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển cuộc sống của người Việt, góp phần tạo dựng chất lượng cuộc sống tốt hơn và tạo ra sự phục vụ tốt cho họ, nâng cấp cái trải nghiệm của họ về việc uống cà phê. Tiếp theo, trong lĩnh vực về cà phê, chúng tôi muốn mang thương hiệu của mình ra thế giới và tự hào nói rằng chúng tôi là người Việt Nam, khẳng định đẳng cấp thế giới của hạt cà phê Việt. Chúng tôi muốn thành công còn để là minh chứng khuyến khích các nhà đầu tư lớn vào nước mình. Họ vào càng nhiều thì cơ hội có nhiều hơn các thương hiệu lớn cho nền kinh tế. Chính những thương hiệu lớn đó sẽ là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới.


Điều gì khiến anh thấy hạnh phúc?

– Về cá nhân, tôi không nhất thiết muốn công ty của mình phải là lớn nhất, bản thân phải trở thành một người đàn ông giàu có mà tôi muốn đạt được điều đó trên sự đam mê của mình và hạnh phúc với nó.

Hiện tôi có 3 đứa con, cháu gái đầu đã 7 tuổi, đứa thứ hai con trai 5 tuổi và đứa cuối mới 1 tuổi. Điều đáng mừng là các con tôi có thể nói chuyện với bố bằng tiếng Anh, với mẹ bằng tiếng Pháp (vợ anh là người Pháp – PV) còn nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt.

Xin cảm ơn anh!

Hà Minh
theo Thể Thao Văn Hóa & Đàn Ông