Khi hàng hóa trên các cầu tàu từ Bangkok cho đến Thượng Hải đang tồn đọng chất đống, khi công nhân khắp châu Á đang bị sa thải đến mức kỷ lục, người dân Đông Á đang bắt đầu nhận thấy rằng họ không những trải qua thời kỳ kinh tế suy giảm mà còn đang sống trong thời khắc chấm dứt “kỷ nguyên vàng” về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.

Hơn 40 năm qua, công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu (EOI) là mặt mạnh của nền kinh tế khu vực. Đài Loan và Hàn Quốc là hai nền kinh tế đầu tiên áp dụng chiến lược phát triển này vào giữa thập niên 1960. Tổng thống Hàn Quốc Park Chung-hee đã khuyến khích các doanh nghiệp nước này hướng tới xuất khẩu thông qua một số biện pháp, kể cả việc cắt nguồn điện cấp cho nhà máy của họ nếu không tuân thủ chỉ thị đó.

Sự thành công của kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan đã khiến Ngân hàng Thế giới (WB) tin rằng EOI là làn sóng phát triển trong tương lai. EOI trở thành một trong những điểm quan trọng tạo ra sự đồng thuận giữa WB và chính phủ các nước Đông Nam Á.

Nhật Bản: Bệ phóng cho xuất khẩu

WB đã thông qua đề án thành lập các khu chế xuất – nơi nguồn vốn nước ngoài có thể được sử dụng kết hợp với lực lượng nhân công giá rẻ (chủ yếu là lao động nữ). WB cũng ủng hộ đưa ra chính sách ưu đãi, khuyến khích về thuế cho các nhà xuất khẩu và thúc đẩy thương mại tự do.

Tuy nhiên, các nền kinh tế Đông Nam Á cất cánh phần nhiều không phải do những nỗ lực của WB mà bởi vì chính sách thương mại năng nổ của Mỹ. Năm 1985, theo Hiệp định Plaza, Mỹ đã buộc định giá lại cơ bản đồng yên Nhật so với USD và các đơn vị tiền tệ khác. Bằng cách làm cho hàng nhập khẩu của Nhật Bản đắt hơn đối với khách hàng Mỹ, Washington hi vọng giảm thâm hụt thương mại với Tokyo. Giá cả lao động ở Nhật Bản trở nên đắt đỏ buộc nước này phải chuyển một phần sản xuất sang các nước có giá nhân công rẻ hơn, đặc biệt là Trung Quốc và Đông Nam Á. Ít nhất 15 tỉ USD đầu tư trực tiếp của Nhật Bản chảy vào Đông Nam Á trong khoảng thời gian 1985-1990.

Dòng vốn của Nhật Bản đã giúp các nước Đông Nam Á “đang trong tiến trình công nghiệp hóa” tránh được những tác động của làn sóng tăng lãi suất tín dụng để kiềm chế lạm phát trong đầu thập niên 1980, tác động của khủng hoảng nợ ở các nước thế giới thứ 3, vượt qua suy thoái toàn cầu vào giữa thập niên 1980 và vươn lên tăng trưởng nhanh… Tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng nguồn vốn đầu tư đã tăng ngoạn mục trong cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với sự tăng trưởng kinh tế thể hiện rõ nét nhất tại Thái Lan, nước đã nhận 24 tỉ USD đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan từ năm 1987-1991. Chính phủ Nhật Bản và các đại công ty lên kế hoạch và hợp tác chặt chẽ để chuyển giao các cơ sở công nghiệp cho các nước Đông Nam Á nhằm tạo ra một bệ phóng để tái xuất khẩu tới Nhật Bản và xuất khẩu tới thị trường các nước thứ 3.

Trung Quốc: “Ông chủ” mô hình

Nếu Đài Loan và Hàn Quốc đi đầu trong thực hiện mô hình kể trên và khu vực Đông Nam Á tiếp nối một cách thành công, thì Trung Quốc triển khai hoàn hảo chiến lược EOI. Với nguồn nhân công giá rẻ mà không nước nào trên thế giới sánh được, Trung Quốc đã trở thành “công xưởng của thế giới”, thu hút 50 tỉ USD FDI mỗi năm trong nửa đầu thập niên 2000. Để tồn tại, các công ty hoạt động xuyên biên giới không còn sự lựa chọn nào khác là phải chuyển các cơ sở cần nhiều nhân công sang Trung Quốc để tận dụng chi phí giá rẻ, gây ra một cuộc khủng hoảng về lực lượng lao động tại các nước tư bản phát triển.

 

Quá trình này diễn ra gắn liền với thị trường Mỹ. Một khi người tiêu dùng Mỹ còn mạnh tay chi tiêu thì các nền kinh tế dựa vào xuất khẩu ở Đông Á tiếp tục phát triển. Tỷ lệ tiết kiệm thấp ở Mỹ không phải là rào cản vì tín dụng luôn có sẵn. Trung Quốc và các nước châu Á khác đã mua trái phiếu chính phủ của Mỹ và cho các công ty tài chính vay. Những công ty đó lại cho người tiêu dùng ở Mỹ vay lại. Giờ đây, khi kinh tế Mỹ suy thoái, sức mua thị trường này giảm rõ rệt. Bởi thế, các nền kinh tế châu Á bị tổn thương.

“Tách riêng” chỉ là ảo tưởng?

Trong nhiều năm, Trung Quốc dường như thay Mỹ làm thị trường nhập khẩu chủ chốt của Nhật Bản và các nền kinh tế nhỏ hơn. Có thể nói, nhu cầu  của người Trung Quốc đã góp phần kéo các nền kinh tế châu Á, gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc, ra khỏi sự lún sâu của sự đình trệ và khủng hoảng tài chính châu Á trong những năm đầu của thập niên này. Chẳng hạn, vào năm 2003, Nhật Bản đã thoát ra khỏi một thời kỳ đình trệ lâu dài khi Trung Quốc “khát” vốn và hàng hóa công nghệ.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích vẫn nghi ngờ học thuyết “tách riêng” của châu Á khỏi đầu  tàu Mỹ. Vì trên thực tế, theo nghiên cứu của các nhà kinh tế như C.P. Chandrasekhar và Jayati Ghosh, nhấn mạnh rằng Trung Quốc quả thực đã nhập khẩu hàng hóa và linh kiện trung, cao cấp của Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN nhưng chỉ sử dụng chủ yếu để hoàn thành sản phẩm cuối cùng phục vụ cho mục đích xuất khẩu tới Mỹ và châu Âu chứ không phải cho thị trường nội địa. Bởi thế, nếu nhu cầu hàng xuất khẩu của Trung Quốc ở Mỹ và châu Âu giảm không chỉ ảnh hưởng đến nền sản xuất Trung Quốc mà còn giảm nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc đối với hàng hóa các nước châu Á đang phát triển.

“Cơn thịnh nộ” đang tới

Sự chấm dứt bất ngờ của kỷ nguyên xuất khẩu đang dẫn đến những hậu quả tệ hại. Trong 30 năm qua, tốc độ phát triển nhanh làm giảm số người có mức thu nhập thấp ở nhiều quốc gia. Sức mua cũng khiến làm giảm các xung đột xã hội. Hiện giờ, với kỷ nguyên tăng trưởng đang gần chấm dứt, sự bất bình đẳng và đói nghèo lại tiếp tục “bắt lửa”. Nguy cơ xung đột xã hội tăng lên là điều không thể tránh khỏi.

Ở Trung Quốc, khoảng 20 triệu công nhân đã mất việc trong những tháng qua. Khi nhu cầu tuyển lao động nước ngoài giảm, hàng trăm ngàn công nhân người Philippines và Indonesia cũng sẽ trở về những vùng nông thôn khan hiếm việc làm. Sự đói nghèo dễ dàng là nguyên nhân của các cuộc biểu tình phản đối chính quyền. Quả thực, Đông Á có thể sẽ bước vào một thời kỳ khá rối ren khi mô hình công nghiệp hóa hướng tới xuất khẩu không còn là mô hình phát triển nữa.

Các nước ASEAN chưa thể nhanh chóng chuyển đổi mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu, nên vẫn phải nhờ vào lĩnh vực này để phục hồi,mặc dù các nước đã bắt đầu tung ra một số kế hoạch kích cầu nhằm hạn chế tác hại của việc xuất khẩu tuột dốc. Do vẫn phải nhờ vào xuất khẩu để vực dậy nền kinh tế, chính quyền các nước Đông Nam Á có thể xem xét biện pháp hạ giá đồng nội tệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh.


 (theo Economist Intelligence Unit)

Ánh Hồng
theo Huffington Post