Các nền kinh tế châu Á dường như lần đầu ra khỏi sự suy thoái toàn cầu. Nhưng những con hổ kinh tế châu Á không quay trở lại hùng dũng như trước.

Những con hổ kinh tế châu Á đã phải chịu đựng sự sụt giảm bất ngờ về sản lượng kinh tế trong suốt cuộc suy thoái toàn cầu và một vài nước phụ thuộc vào xuất khẩu lo lắng vì họ sẽ không duy trì được mức độ phục hồi cho tới khi nhu cầu tại Mỹ và châu Âu hồi phục. Tuy nhiên, khả năng phục hồi một cách ngoan cường của họ không nên đánh giá thấp. Các con hổ châu Á đã ào ạt quay trở lại một cách nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng châu Á những năm cuối 1990. Sự quay lại bất ngờ đó có thể lặp lại.

Cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á đã ảnh hưởng nặng tới khu vực này vào năm 2008. Trung Quốc và Ấn Độ vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng trạng thái tăng trưởng GDP hàng năm của những nền kinh tế mới nổi ở châu Á đã co lại ở mức 15% trong quý 4 năm 2008. Chỉ có 3 nền kinh tế công bố con số kinh tế của quý đầu năm nay. Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đã tăng nhanh hơn 6%, thêm 1% so với quý trước. Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc tăng thêm 0.2% sau khi giảm 19% trong quý trước. Nhưng GDP của Singapore giảm 20%, thậm chí hơn thế trong quý 4 của năm ngoái.

Nhiều số liệu về xuất khẩu cho thấy tình trạng tồi tệ của nền kinh tế có thể đang qua đi. Mặc dù những con số nổi bật của xuất khẩu Hàn Quốc giảm 19% trong năm nay tính tới tháng Tư. Con số xuất khẩu tăng theo sự điều chỉnh thời vụ đã co lại tỷ lệ 53% trong 3 tháng đầu năm nay so với mức của ba tháng giai đoạn trước. Đây là số liệu của Goldman Sachs; Tăng trưởng xuất khẩu của Đài Loan co lại ở mức 29%. Mức xuất khẩu của Trung Quốc trong những tháng vừa qua được duy trì ổn định, mức sản xuất công nghiệp tăng ở con số 25% trong 3 tháng trước.

Các nhà kinh tế đang xem xét lại dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm nay: Mức 8% hiện nay có thể là hiện thực thậm chí nếu mức tiêu dùng của người dân Mỹ vẫn ở mức tằn tiện. Ý kiến này là mức tăng trưởng của Trung Quốc phụ thuộc vào người tiêu dùng Mỹ. Nếu tính một cách cẩn trọng trong cộng gộp giá trị cơ bản gồm cả con số nhập khẩu thì tỷ lệ xuất khẩu của Trung Quốc tới Mỹ đóng góp hơn 5% cho tỷ lệ tăng trưởng GDP.

Điều này có luận cứ hơn do nỗ lực trong điều chỉnh tỷ lệ xuất khẩu của nền kinh tế như Hong Kong, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan. Ông Robert Subbaraman, một nhà kinh tế tại Nomura đã đưa ra một vài lý do tại sao họ duy trì tình trạng tăng trưởng chậm chạp. Sự tăng trưởng gần đây của xuất khẩu và sản xuất theo ông biện luận rằng một thực tế phản ánh là các hãng sản xuất không chuyển động theo quán tính của thị trường cổ phiếu nữa. Điều này sẽ chỉ cung cấp một sự tăng trưởng tạm thời trừ phi nhu cầu thế giới hồi phục trở lại. Thặng dư tài chính của các hãng trong việc đầu tư sẽ tiếp tục giảm, trong khi mức thất nghiệp tiếp tục tăng, đe dọa đối với thị trường hàng tiêu dùng. Sự mạnh hơn của Trung Quốc cũng không cứu được tỷ lệ tăng trưởng của cả khu vực. Hơn 60% sự nhập khẩu của Trung Quốc đến từ tình trạng ngưng nghỉ của châu Á, nhưng khoảng một nửa trong số đó được cấu thành thu nhập tại Trung Quốc và sau đó bán cho thế giới.

Nhận định gần đây nhất về kinh tế châu Á của IMF với dự báo gồm Trung Quốc và Ấn Độ sẽ chỉ tăng 1.6% trong năm 2010, là mức độ hào phóng khi hy vọng kinh tế Mỹ quay trở lại trạng thái cân bằng. Tuy nhiên theo Peter Redward tại Barclays Capital có ý kiến rằng châu Á có thể phục hồi sớm và mạnh hơn bất cứ nơi đâu trên thế giới. Vào năm 2010, ông đoán là những nền kinh tế nhỏ hơn tại châu Á có thể tăng trưởng 4% hoặc tiến tới mức 7%, mức Trung Quốc và Ấn Độ từng đạt được.

Một lý do giải thích cho nhận định của ông là việc tại sao các nền kinh tế châu Á va phải thời kỳ khó khăn đầu tiên. Các nước Đông Nam Á thường bị đổ lỗi cho việc tiết kiệm quá nhiều và tiêu tiền quá ít, nhưng ông Redward lý giải lý do chính của tình trạng khó khăn của châu Á là những tính toán sự sản xuất đóng góp cho GDP hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Những ngành công nghiệp như xe hơi, ngành điện tử hàng hóa và cơ cấu tài chính có tính tuần hoàn cao. Những nền kinh tế mới nổi, GDP giảm mạnh nhất trong năm ngoái, tại các nước có mức đóng góp lớn nhất của sản xuất. Trên quá trình phục hồi có thể hàm ý một sự phục hồi bất ngờ.

Lý do thứ hai dự báo một sự bật mạnh hơn là sự kích thích tài chính tại châu Á lớn hơn các vùng khác trên thế giới.



Biểu đồ dự báo tăng trưởng GDP của các nước châu Á. Nguồn: Economist.

Trung Quốc và Nhật Bản, Singapore, South Korea, Taiwan và Malaysia tất cả đều công bố gói tài chính kích cầu chiếm hơn 4% trong GDP của năm 2009, gấp đôi so với gói kích thích tiêu dùng trong năm nay của Mỹ. Việc kích thích kinh tế có hiệu quả tốt hơn tại châu Á so với Mỹ và châu Âu bởi vì những khoản nợ đầu tư dự định dành cho cắt giảm thuế hoặc cung ứng tiền mặt được sử dụng nhiều hơn là tiết kiệm. Những ngân hàng vì thế sắp xếp tốt hơn và tự do hơn trong hỗ trợ tăng trưởng trong tiêu dùng nội địa.

Là những nhà nhập khẩu dầu và hàng hóa lớn nhất thế giới, những con hổ châu Á có lợi ích rất lớn từ tình trạng hạ giá hàng hóa trong năm qua. Điều này đóng vai trò giống như giảm thuế, tăng thu nhập thực tế và lợi nhuận. Châu Á đã kiếm được nhiều lợi nhuận khi giá dầu rẻ hơn, con số này ứng với 3% tỷ lệ GDP của cả khu vực trong năm nay. Thêm vào đó, mức giá thấp đối với giá lương thực và nguyên liệu thô giảm giúp ích cho những gói kích cầu của chính phủ.

Những người bi quan vẫn giữ dự báo châu Á thường bị kéo ra khỏi giai đoạn suy thoái trước như khủng hoảng tài chính năm 1998 bởi sức xuất khẩu mạnh sang phương Tây. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây bởi Frederic Neumann và Robert Prior-Wandesforde, đều thuộc HSBC nhận định rằng, trái với nhận định rộng rãi, sự phục hồi của châu Á từ mức đi xuống năm 1998 không phải bởi xuất khẩu dẫn đầu mà là hàng hóa tiêu dùng. Xuất khẩu sang phương Tây không tăng cho tới năm 2000. Luồng thặng dư thanh toán thực sự giảm trong giai đoạn năm 1998 và 2001.

Nhờ có một gói kích thích tài chính lớn và sức khỏe của bộ phận kinh tế tư nhân tại hầu hết các nền kinh tế trong khu vực, chi tiêu quốc nội gồm sự tiêu thụ và đầu tư sẽ sớm hồi phục lại tại các thị trường châu Á mới nổi hơn bất cứ nơi nào, mức tăng có thể 7% vào năm tới, tăng từ mức 4% – 5% trong năm nay. Nhu cầu tiêu thụ trong nước của Mỹ được dự báo duy trì ở mức yếu trong năm 2010 sau khi giảm mạnh trong năm nay. Tính cả Nhật Bản và tổng chi tiêu quốc nội tại châu Á dự báo sẽ vượt Mỹ vào năm tới.

Nhưng điều gì là triển vọng dài hạn của châu Á? Có nhiều sự tăng trưởng trong nhu cầu quốc nội của châu Á trong năm nay và năm tới do sự đầu tư của chính phủ. Không giống như các nước giàu, các nước châu Á mới nổi có giới hạn để giữ việc đầu ư vào cơ sở hạ tầng trong nhiều năm nhưng các chính phủ cần khuyến khích hơn tiêu dùng để lấp đầy khoảng trống sau khi các dự án cơ sở hạ tầng được hoàn thành. Tỷ lệ tiêu dùng thấp của các gia đình tại châu Á và những phương tiện vay tiêu dùng chính là cách tạo ra lối thoát lớn cho kích thích tiêu dùng nhiều hơn. Các mạng lưới bảo vệ an toàn hơn có thể khuyến khích châu Á tiết kiệm ít hơn. Các chính phủ cần nâng sự đóng của các hộ gia đình vào thu nhập quốc gia bằng cách hạ bớt xu hướng sản xuất dàn trải và khuyến khích tăng lao động chuyên sâu hơn.

Cuối cùng, sự mở rộng tương đối trong chi dùng quốc nội sẽ giúp hầu hết các nền kinh tế châu Á giữ mức tăng trưởng nhanh hơn những vùng khác trên thế giới. Nhưng những con hổ châu Á không giống như sự quay lại hung hăng trong tỷ lệ tăng trưởng của nhiều năm gần đây.

Dự báo là xuất khẩu không đóng góp gì nhiều cho tăng trưởng và nhu cầu trong nước tăng mạnh mẽ trong vòng 5 năm. Khi đó, thị trường mới nổi châu Á có thể thấy mức tăng trưởng hàng năm 7% trong vòng 5 năm tới, trong đó Trung Quốc là 7%, các nền kinh tế nhỏ hơn là 5%. Điều này có vẻ là tin không vui đối với những nước từng có mức tăng trưởng trung bình 9% trong 3 năm tính tới 2007. Nhưng tỷ lệ tăng trưởng này vẫn cao gấp 3 lần so với các nước giàu khác.

Ánh Hồng
theo Economist