Người đã làm cho việc chụp ảnh, từ một việc phức tạp và khó khăn, trở nên dễ dàng với động tác ấn nút đơn giản, chính là George Eastman – người sáng chế ra phim cuộn và thúc đẩy xu thế phát triển của nhiếp ảnh, đồng thời là ông chủ công ty Eastman Kodak.

Bỏ học…

George Eastman sinh ngày 12/7/1854 ở Waterville, New York, là con út trong gia đình có 3 người con. Cha ông, George Washington Eastman – là doanh nhân thành công khiêm tốn, đã mở một nhà trẻ. Khi Eastman lên 5 tuổi, cha ông bán nhà trẻ và chuyển cả gia đình tới Rochester, nơi ông mở trường Cao đẳng tư thục Thương mại Eastman. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, cha của Eastman qua đời và trường cao đẳng cũng đóng cửa.

Gia đình Eastman bị phá sản. Chỉ ít ngày sau đó, cậu bé Eastman từ sung túc trở thành không có một xu dính túi, và dù mới chỉ 7 tuổi, cậu bé cũng thấu hiểu được điều đó. Để giúp gia đình, mẹ của Eastman bà Maria Kilbourn đã cho khách du lịch thuê nhà, nhưng Eastman không thích nhìn thấy mẹ mình phải lau dọn và nấu nướng cho những người lạ. Cậu bé quyết định sẽ làm gì đó.

Cậu bỏ học giữa chừng và xin làm người đưa tin ở một nhà băng địa phương. Dù chỉ được trả 3 đô la một tuần, nhưng đó là số tiền đầu tiên cậu kiếm được. Ngay sau đó, Eastman làm việc cho một hãng bảo hiểm địa phương, nơi nhờ vào những sáng kiến của mình, cậu được trả tăng lên thành 5 đô la một tuần.

Cậu đưa số tiền đó cho mẹ để phụ giúp những chi tiêu của gia đình. Việc quan trọng nhất khi đó là để chăm sóc cho chị gái cậu – Katie, đang mắc bệnh bại liệt. Dù cố gắng hết sức, Eastman vẫn phải đành chấp nhận nhìn chị gái mình rơi vào tay thần chết khi cô bé mới 16 tuổi.


… đến với nhiếp ảnh

Sau 5 năm làm việc cho hãng bảo hiểm, Eastman nghỉ việc để làm nhân viên cho một ngân hàng ở Rochester. Với mức lương 15 đô la một tuần, Eastman bắt đầu nghĩ đến việc có một kỳ nghỉ. Ông luôn ao ước được đến thăm Santo Domingo.

Eastman đã bàn tính kỹ lưỡng chương trình du ngoạn đầu tiên của mình với các bạn đồng nghiệp. Khi nghe Eastman nói về những nơi sẽ đến, một đồng nghiệp của Eastman: “Dù không được đi cùng anh, nhưng nếu được xem những hình ảnh do anh chụp và mang về thì cũng thật là thích”. Chính lời nói bất ngờ này đã dẫn dắt George Eastman vào ngành nhiếp ảnh. Eastman đã bỏ tiền ra để mua một máy ảnh với dụng cụ đầy đủ, được xem là đạt tiêu chuẩn vào thời kỳ đó.

Vào thời điểm đó, việc chụp ảnh rất phức tạp. Thợ chụp ảnh phải dùng kính tráng một lớp thuốc và thứ kính này phải được chụp khi lớp thuốc còn ướt rồi rửa ngay sau đó. Vì thế, dụng cụ chụp ảnh gồm cả những lọ thủy tinh đựng hóa chất, cả một chiếc lều vải dùng làm phòng tối. Những đồ nghề này cồng kềnh chẳng khác nào “mang bộ yên cương” theo mình.

Eastman nghĩ phải có cách nào đó đơn giản hơn để chụp ảnh, và ông quyết tâm sẽ tìm ra nó. Trong suốt thời gian đó, Eastman cũng là một nhân viên nhà băng như bất kỳ người nào khác. Nhưng ban đêm, ông vội vã về nhà để mày mò với chiếc máy ảnh mới của mình. Chụp ảnh trở thành nỗi ám ảnh đến mức ông mất hàng giờ liền cho những tạp chí ảnh, cố gắng học những gì có thể về nghệ thuật. Trong một lần đọc một trong những cuốn tạp chí này, Eastman đã đọc được một bài báo mà có thể thay đổi cuộc đời ông.

Eastman phát hiện ra bài báo về những tấm kính ảnh khô được các thợ chụp ảnh người Anh sử dụng, mà không cần phải chuẩn bị quá nhiều trước khi chụp ảnh. Cho đến tận lúc đó, các máy ảnh có kính ảnh ướt vẫn đang được xem là đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, chúng làm mất nhiều thời gian, các vật liệu xung quanh thì ẩm ướt và hỗn độn. Những chiếc máy ảnh kính ảnh khô có thể được tráng bởi hóa chất. Ngay lập tức, Eastman đã bị ấn tượng bởi sự hứa hẹn và tiềm năng của những cái máy ảnh phim khô. Ông nghĩ, nếu các thợ ảnh người Anh có thể làm được, thì mình cũng có thể làm được.

Eastman bắt đầu tìm cách để phát triển những tấm phim khô. Ông trộn lẫn các hóa chất, đặt chúng vào kính ảnh, nung chúng trong nồi và sau đó kiểm tra chúng. Ông đã làm việc tận tụy đến mức mỗi buổi sáng, mẹ ông thường thấy ông ngủ quên trên sàn bên cạnh các tấm kính ảnh.



“Sứ mệnh rõ ràng nhất của Công ty Eastman Kodak là trở thành nhà sản xuất chất liệu ảnh lớn nhất trên thế giới hoặc là hỏng bét hết cả” – George Eastman nói. Ảnh Corbis

Ngoài việc tìm ra công thức của dung môi để quét lên tấm kính ảnh thì Eastman còn đã nghĩ ngay đến việc thiết kế một cái máy tráng hóa chất để thay thế cách làm thủ công bằng tay. Nhờ vậy mà ông có thể thực hiện các thao tác tráng phim rửa ảnh nhanh hơn nhiều.

Eastman đã không quên một công việc quan trọng là đăng ký sở hữu bản quyền những phát minh và sáng chế quan trọng của mình liên quan đến công nghệ nhiếp ảnh, rửa ảnh.

Khi Eastman hoàn thành những tấm kính ảnh, ông bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về việc tìm cộng sự và bắt đầu kinh doanh. Tuy nhiên, những ý tưởng đầy tham vọng của George Eastman đã gặp rất nhiều cản trở, nhất là khó khăn về vốn. Tưởng rằng phải bỏ cuộc nhưng George Eastman vẫn quyết tâm khởi nghiệp bằng những gì mình đang có và chờ đợi thời cơ.

Sau khi không được thăng tiến ở nhà băng, Eastman bỏ việc và thuê một tầng của một tòa nhà để mở công ty riêng. Ở đó, ông bắt đầu sản xuất những tấm kính ảnh khô để bán. George Eastman chỉ thuê thêm một người phụ việc duy nhất còn mọi việc đều do ông làm cả, từ pha chế, đóng chai cho đến bán hàng.

Ban đầu, việc làm ăn gặp nhiều khó khăn khi nhiều người mua phàn nàn về những tấm kính ảnh. Eastman nhanh chóng quyết định sẽ thu hồi tất cả chúng và thay thế miễn phí. “Việc làm cho những tấm kính ảnh đó tốt hơn đã lấy đi những đồng tiền cuối cùng của chúng tôi, nhưng cái chúng tôi để mất quan trọng hơn – đó là danh tiếng”.

Eastman đã đúng và việc kinh doanh của ông nhanh chóng phục hồi trở lại bình thường. Năm 1880, ông có 6 nhân viên và sản xuất ra hơn 4000 tấm kính ảnh một năm.

Năm 1881, một bước ngoặt lớn đã đến với George Eastman, nhà kinh doanh Henrry Strong đã quyết định góp vốn kinh doanh với George Eastman. Công ty trách nhiệm hữu hạn Eastman Dry Platte đã ra đời. Eastman và Strong nhanh chóng trở thành một cặp bài trùng rất ăn ý trong kinh doanh.

George Eastman không ngừng tìm tòi và có những phát minh mới. Những tấm kính ảnh nặng nề và dễ vỡ đã được thay thế bằng một loại giấy có tráng màng phim hóa chất. Chính nhờ loại phim này mà ngay cả những người bình thường nhất cũng có thể chụp ảnh dễ dàng.

Từ việc mày mò tạo ra dung môi và hóa chất phù hợp để rửa ảnh, phóng to ảnh, Eastman quyết tâm thiết kế và sản xuất cho kỳ được những chiếc máy ảnh. Ông thuê John Bausch và Henry Lomb, 2 người chuyên về quang học, để làm ra ống kính. Ông cũng thuê một người chế tạo máy để tạo ra một lá chắn sáng. Năm 1888, Eastman đã sẵn sàng để cho ra mắt chiếc máy ảnh Kodak đầu tiên.

Ý tưởng ban đầu là đặt tên máy ảnh là “Codac”, nhưng để tạo khác biệt và mạnh mẽ, ông đã chọn phụ âm “k” thay cho phụ âm “c”. Thương hiệu Kodak được khai sinh chính thức như vậy.

Chiếc máy ảnh Kodak tạo ra một cuộc cách mạng. Trong 4 năm đầu, đã bán được 73 nghìn chiếc, cho dù chi phí mỗi chiếc là 25 đô la.

Mọi việc khá thuận lợi cho đến năm 1893, khi sự sa sút của nền kinh tế làm cho công ty gặp khó khăn. Nhà hóa học giỏi nhất của Eastman cũng nghỉ việc để mở công ty riêng, và tình hình khó khăn hơn bao giờ hết. Nhưng Eastman đã thuê người mới, người chụp ảnh đã giành nhiều giải thưởng để giúp ông cải thiện các tấm kính ảnh. William Stuber đã tạo ra loại phim tốt nhất cho Kodak, thổi luồng sinh khí mới vào công ty.

Kể từ đó, Kodak tiếp tục cải thiện vị trí của mình trên thị trường, với sản phẩm Brownie, máy ảnh trẻ em có giá chỉ 1 đô la. Kodak cũng trở nên có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp phim ảnh, “Trừ khi thảm họa xảy ra, mọi thứ sẽ đều tốt đẹp” – Eastman viết trong thư gửi mẹ như vậy.

Năm 1925, Eastman nghỉ hưu và chọn Stuber làm người kế nhiệm. Trong khi đó, Eastman ngày càng ốm yếu vì bệnh có liên quan đến xương sống. Với một người mà chưa bao giờ biết nghỉ ngơi như Eastman thì việc không thể đi lại được là một điều không thể chịu đựng nổi. Ngày 14/7/1932, Eastman tự sát bằng cách bắn vào ngực mình và để lại một mẩu giấy ghi: “Gửi tới các bạn của tôi: công việc của tôi đã hoàn thành. Vậy thì còn chờ gì nữa?”.

Nguyệt Ánh tổng hợp