Thắt lưng buộc bụng và cái chết của một dân tộc

Ngày 14 tháng 12 năm 1992, sau thất bại hiển nhiên của cải cách  của Gaiđa, Boris Elsin chỉ định thủ tướng mới là Victor Chernomodin, cựu Bộ trưởng công nghiệp khí đốt. Ông là người có tuổi,cựu thành viên ban chấp hành trung ương ĐCS Liên Xô. Ông đem theo mình một ekíp mới, gồm những người chín chắn, tự hào gọi bản thân là “những nhà công nghiệp” và “Người nhà nước”. Những sự thay đổi này, cũng chẳng soay chuyển được tình thế là bao.

Một chuyên gia chủ chốt trong êkíp mới của Chernomodin là Evgheni Iaxin, nhà kinh tế có tuổi này được mời gọi để sửa sai của các nhà cải cách trẻ. Ông được đề cử làm cố vấn kinh tế của chính Tổng thống Elsin, sau đó là Bộ trưởng bộ kinh tế. Iaxin phát biểu chính kiến của mình : “ Đất nước này còn phải uống chén đắng đến tận cùng. Nhờ sự lạm phát có tính chất tịch thu để thiết lập sự cân bằng kinh tế mới trên đất nước.Trong tương lai, ít nhất là một năm chúng ta phải sống trong điều kiện lạm phát”.  Nói một cách khác, Iaxin đề đạt kiên quyết hạ thấp các thu nhập thực tế của người công dân Nga hạng trung, còn trong khi đó lạm phát sẽ tiêu diệt nốt số tiền tiết kiệm còn lại của dân Nga như là nguồn tư bản bên trong. Những không  có nguồn đầu tư bên ngoài thì nước Nga lấy đâu ra tư bản để nuôi dưỡng  nền kinh tế?

“Còn mỗi một biện pháp – Iaxin nói – Đó là thắt lưng buộc bụng, hạ thấp mức sinh hoạt.

   Thuật ngữ “Thắt lưng buộc bụng” đã gắn với thời thiếu thốn rộng khắp mà nhân dân Nga phải chịu trong những năm chiến tranh thế giới thứ II. Những lần này sự hy sinh tự nguyện của nhân dân không đưa đến chiến thắng đối với quân thù. Nó chỉ dẫn tới bần cùng hoá và cái chết của những người hưu trí có tiền tiết kiệm bị lạm phát chén sạch.

Sau này, Iavlinski nhớ lại : Ông thực sự sững sờ trước việc các nhà cải cách kiểu Iaxin và Gaiđa chẳng thèm quan tâm tới cuộc sống của những người dân bình thường Nga. Những người cầm cương đất nước thời Elsin là những kẻ vừa vô tình vừa nhẫn tâm”.

 Gaiđa và các đồng nghiệp của ông ta cho rằng ở nước Nga chỉ toàn một lũ cú  đang sống, do đó cần phải tiêu diệt hết tất cả  những gì đang tồn tại ở Nga và sau đó ươm trồng giống mới. Để nhằm điều đó, mọi biện pháp và phương tiện đều tốt. Cứ mặc lạm phát huỷ diệt tất cả.

    Nhiều người trong chính phủ Elsin nói về đất nước mình với sự thờ ơ tưởng như nói về một quốc gia xa lạ nào đó. Người Nhật và người Đức  sau thế chiến II đơn giản hơn, bởi vì đơn thuần họ chỉ  bị nền công nghiệp bị tàn phá, chính quyền của bọn chiếm đóng, và đã làm được nhiều điều để tẩy sạch nền và bắt đầu lại từ đầu. Nước Nga đáng tiếc không như thế.

    Kết quả của sự tự do hoá hấp tập về giá cả của Gaiđa đã khiến hơn một trăm triệu người dân Xôviết có mức sống tương đối khấm khá, chỉ trong một giờ đã trở thành bần cùng. Các giáo viên trường phổ thông, bác sĩ, các nhà vật lý, các kỹ sư, kế toán, thợ mộc…bị ngọn gió của cải cách cuốn sạch. Trong khi đó, tự do thảm bại của nghành thương mại cho phép người mình cuỗm sạch các nguồn dự trữ  thiên nhiên của nước Nga. Nứơc Nga mất đi nguồn thu nhập chính dẫn đến hậu quả không còn tiền để trả lương hưu và tiền lương cho các cơ quan bảo vệ pháp luật , quân đội, y tế, giáo dục, và văn hoá. Kết quả chữa trị sốc của Gaiđa là sự tuột dốc không kìm nổi của nền kinh tế , văn hoá, thoái hoá xã hội kéo dài đến hết thời Elsin.

   Nền kinh tế của các nước phát triển khác tiếp tục tăng trưởng, còn của nước Nga thì rút lại về qui mô. Vào thời Gorbachop, Liên xô là cường quốc thứ 3 trên thế giới, sau Mỹ và Nhật Bản) Những suy thoái đích thực đã bắt đầu ngay sau sự tan rã của Liên Xô. Qua 4 năm chữa trị sốc của Gaiđa, tổng sản phẩm quốc dân rút xuống 40%. Nếu tính theo bình quân đầu người, nước Nga trở nên nghèo hơn cả Pêru. Hàng bao thập  kỷ các thành tịu công nghệ kỹ thuật đã chìm vào quên lãng. Nền khoa học Nga lừng danh đã tan nát ra từng mảng . Đỉnh cao của nền văn hoá Nga bị đổ vỡ. Sở hữu nhà nước tuột theo tiếng  búa gõ đấu giá.

   Tất cả những ai đến nước Nga vào những năm đầu thời Elsin cầm quyền đều thấy người dân Nga bình thường đang cố để tồn tại như thế nào. Bên cạnh các toà nhà bêtông ảm đạm của các cửa hàng bách hoá thời Xôviết, nảy ra những chợ tư nhân mới. Những chợ này nằm ngay giữa bụi bẩn và rác rưởi ở lối ra của tàu điện ngầm , dọc các đường phố lớn, trên các quảng trường…Bên cạnh nhà hát nghệ thuật Matxcova huyền thoại và nhà Hát lớn khoảng vài trăm mét, hàng ngày tập trung những người già, họ đứng thành hai hàng song song dọc đường phố . Những người hưu trí này dáng vẻ sạch sẽ nhưng quần áo sờn mòn. Họ vây lấy người qua đường trong vòng im lặng, mời mua ấm pha trà, vài đôi tất đan, ba cái bình đựng rượu, chiếc áo len cũ, đôi giày da đã mòn. Còn trong các cửa hàng sách bắt đầu dồn đống những cuốn sách quí hiếm đến kinh ngạc, người ta bán chúng với cái giá nực cười.Giới trí thức Nga bán đổ bán tháo các thư viện của mình.  Trên các chợ giời ngoại ô có thể mua huân chương, huy chương của Liên Xô. Đó là các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh thế giới thứ II bán các phần thưởng của mình để mua thức ăn.

   Người Nga phải chịu nặng nề hơn nhiều so với người Mỹ vào những năm Đại khủng hoảng ( 1929-1933) và họ nhớ về bản năng nguyên thuỷ – bắt đầu cuộc đấu tranh về sự sinh tồn. Tin đồng về mất mùa và sự thiếu hụt thức ăn lan ra khiến hàng triệu thị dân đi ra ngoại thành trồng bắp cải và khoai tây  trên đất vườn của mình.  Đất  màu mỡ ngoại ô Matxcova sôi động những người chăm chỉ đào đào bới bới. Đây là sự quay lại nền kinh tế tự nhiên thời trung cổ. Chubai và Gaiđa tự hào là đã tránh được cái chết đói hàng loạt. Những thoát được đói không phải là vì đã thả nổi giá cả. Đơn thuần là dân Nga đã quay lại với đất đai. Vào những năm 1992-1993, người Nga thoát chết đói nhờ giữ xẻng trong tay và túi khoai tây giống.

Kỳ sau : Bán đổ bán tháo đất nước vì phiếu sở hữu.   

Trần Mai Tùng