Bị vứt vào cõi đời (kỳ 9) bởi Nguyễn Quang

(DN.ODESA) – Đó chính là tòa nhà mà trên đường đi học tôi vẫn thường đi qua. Đã có lần tôi dừng lại khá lâu để được chiêm ngưỡng đàn chó tuyệt đẹp đùa giỡn nhau trong sân. Tòa nhà ba tầng được xây toàn bằng gạch đỏ, có tường cao bao quanh.Cánh cửa sắt sơn màu xám có tấm biển đề số nhà và tên phố màu trắng. Phố Công viên tháng Năm, đối diện với viện bảo tàng Lịch sử quân đội.

<!-- /* Style Definitions */ p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal {mso-style-parent:""; margin:0in; margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:12.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 {size:8.5in 11.0in; margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; mso-header-margin:35.4pt; mso-footer-margin:35.4pt; mso-paper-source:0;} div.Section1 {page:Section1;} -->

Tôi bước xuống xe và hiểu rằng mình đang ở trong một thế
giới hoàn toàn khác với thế giới phía bên kia cánh cổng sắt tự động. Một bà già
ăn mặc gọn gàng sạch sẽ dắt tay tôi vào phòng khách và bảo tôi ngồi chờ trên
chiếc ghế xa-lông da màu trắng. Tôi bẽn lẽn ngồi xuống, cố gắng đặt hộp đàn sao
cho thật êm. Một cảm giác xấu hổ khiến tôi nóng bừng hai má khi nhìn xuống đôi
giày đã cũ đi dưới chân và bộ váy áo bằng loại vải rẻ tiền do mẹ Vera tự may
lấy, chúng tương phản một cách thảm hại với những đồ vật xung quanh. Tôi lóng
nga lóng ngóng đứng ngồi không yên.

Nhưng ngoảnh sang bên phải, nhìn vào tấm gương lớn treo trên
tường, tôi cảm thấy yên tâm hơn vì trong đó là một cô gái với đôi mắt đen to,
làn tóc đen dày óng ả đổ dài xuống sát thắt lưng, một thân hình cao dong dỏng,
cân đối đang ở vào tuổi dậy thì. Chính tôi cũng cảm thấy hài lòng với diện mạo
của mình. Tôi giật mình vì cánh cửa lớn ngay sát tấm gương bật mở, ba chú chó
khoang lốm đốm đen lững thững bước ra, đi sau chúng là một cô gái mà tôi đoán
chắc là con ông quận trưởng. Khuôn mặt và dáng người của cô đúc khuôn bố, có lẽ
chỉ có màu mắt xanh là không giống. Cô ăn vận theo kiểu cao bồi, đầu đội mũ
phớt trắng, áo gi-lê da và quần bò bó chẽn.

– Tớ tên là Anjela, chúng mình ra ngoài vườn ngồi đi.

– Mình là Tachiana.

– Tớ biết rồi, ba đã nói từ mấy hôm trước. Đừng sợ, chúng
không cắn đâu nếu chưa có lệnh của mình.

Hai chúng tôi ngồi lên trên chiếc ghế xích đu ngoài vườn. Ba
chú chó nằm phủ phục trên thảm cỏ xanh phía trước mặt, mấy cái tai khẽ xoay đi
xoay lại. Bà già lúc nãy bưng đến cho chúng tôi một khay đầy hoa quả, bánh kẹo
và nước giải khát. Đến lúc đó, tôi mới chợt nhớ ra rằng từ sáng đến giờ mình
mới chỉ ăn một chiếc bánh rán nhân táo trong căn-tin của trường. Bụng tôi sôi
lên và nước miếng tứa ra trong mồm. Anjela bóc những thanh kẹo sô-cô-la và tung
về phía ba con chó. Chúng nhảy lên trên không đớp gọn và giương những đôi mắt
biết ơn của giống chó trung thành lên với chủ. Dưới ánh nắng ấm áp, chúng chậm
rãi nhai kẹo và lim dim đôi mắt như mơ ngủ. Từ khóe mép của con chó nằm gần
chúng tôi nhất, nhểu ra một hàng rãi màu nâu nâu.

“Có lẽ, chi phí nuôi một con chó còn tốn hơn tiền sinh hoạt
của hai mẹ con mình” – tôi thầm nghĩ trong bụng và một nỗi ghen tỵ dâng lên
trong lòng khiến tôi cảm thấy khó thở. Nó làm nảy sinh trong tôi một câu hỏi
đầu tiên: tại sao có những người giàu thế? Khi bước chân ra khỏi cổng, tôi cảm
thấy toàn thân bải hoải vì những cảm xúc vừa trải qua trong ngôi nhà có cánh
cửa sắt. Chiếc hộp đàn như xiết nặng bên vai, chiếc đế giày dán đi dán lại mấy
lần lại bong ra khiến tôi đi bước thấp bước cao thật khổ sở. Chính lúc này đây,
tôi mới cảm thấy thấm thía sự côi cút của mình. Trong bóng tối của con đường từ
bến tàu điện về nhà, tôi bật khóc thút thít, những giọt nước mắt tủi thân, oán
giận cho số phận. Hình như ông trời lúc đó cũng động lòng trắc ẩn nên cũng nhỏ
xuống dăm ba hạt mưa lác đác, lộp bộp rơi trên những tàu lá hai bên đường.
Nhưng ở đâu đó, trong một ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn, một ngọn lửa chợt
bùng lên, cũng có thể là kết quả của sự cọ xát giữa những cảm xúc mãnh liệt
khác nhau, những cũng có thể đó là tiếng gọi của bản năng sinh tồn trỗi dậy: đó
là ngọn lửa của ý chí vươn lên, một khát vọng không chịu thua kém. Tôi lẩm nhẩm
thề thành tiếng rằng, bằng âm nhạc, tôi sẽ giành được sự hâm mộ của hàng triệu
trái tim.

Trong khi sắp xếp đồ ăn gồm mấy củ khoai luộc, ít dưa chuột
muối, ít mỡ muối vào túi để đem vào cho mẹ Vera, tôi rút từ trong hộp đàn ra
gói bánh kẹo mà Anjela gói cho tôi trước lúc ra về. Không biết nói với mẹ Vera
thế nào về chỗ quà này đây? Lấy tiền đâu ra mua? Cuối cùng, tôi quyết định
không mang vào hết ngay một lúc mà chia nhỏ ra đem tới dần dần.

Những đồng tiền khá hậu hĩnh tôi kiếm được bằng việc dạy
Violon tại nhà ông quận trưởng cũng không cứu được mẹ Vera. Mẹ ra đi một cách
êm ả sau khi yêu cầu tôi chơi lại cho bà bản nhạc ông Xergay đã sáng tác trong
nhà tù để tặng bà nhân ngày sinh nhật. Khi tôi ngừng đàn, quay đầu nhìn lại thì
trên màn hình điện tim chỉ còn là một đường vạch ngang câm lặng. Khuôn mặt mẹ
hết sức bình thản, trong tay còn nắm chặt tấm ảnh đã ngả màu vàng của ông
Xergay lồng trong chiếc lắc hình bầu dục.

Cuộc đời tôi lật sang một chương mới.

Một chương mà chỉ có tôi là nhân vật chính. Tôi không ngần
ngại đặt tên cho nó là “Lao động và lao động nghệ thuật”. Tôi hầu như lảng
tránh sự cọ xát với thế giới bên ngoài. Về nội tâm, tôi bỗng trở thành người
lớn. Tôi sống trong cô đơn và cũng trưởng thành trong cuộc sống nội tâm đó.
Những ca khúc đầu tiên ra đời. Trong chương này, nếu có một sự kiện bên ngoài
âm nhạc đáng để tôi nhắc đến thì đó là tôi đã không còn là một thiếu nữ trinh
trắng nữa. Tôi đã trở thành đàn bà. Đối với tôi, nó không được che phủ bởi một
cuộc tình lãng mạn như ta vẫn thường thấy mà trần trụi, thô thiển và dung tục,
khiến cho mỗi lần nghĩ lại tôi không khỏi rùng mình.

Hôm đó, trời bão tuyết mặc dù lúc trưa trời vẫn trong trẻo.
Mấy con chó của Anjela nằm phủ phục trước cánh cửa kính cao, rộng thông ra
ban-công. Những chiếc mũi ươn ướt, nóng ấm của chúng hít hít vào mặt kính phủ
lớp băng tuyết như những cánh hoa và làm tan băng thành những lỗ tròn tròn, cái
thấp cái cao. Những ánh mắt hấp háy của chúng ngắm nhìn những bông tuyết trắng
bay vèo vèo qua những ô cửa sổ tròn con con đó kèm theo những tiếng rít của
gió, lúc to lúc nhỏ. 

Cánh cửa phòng bật mở. Ông Kovalenko ló đầu vào. Có lẽ ông
đang đọc sách hay tài liệu gì đó, trên sống mũi vẫn còn đeo chiếc kính gọng
trắng tinh. “Ông đeo kính râm có lẽ hợp hơn” – không hiểu sao trong đầu tôi lại
nảy ra ý nghĩ đó khi quay lại nhìn.

– Chú sẽ đưa cháu về tận nhà, nếu cháu không muốn bị đóng
băng ở ngoài đường.

Đó chính là điều mà tôi vẫn lo sợ. Chính vì nỗi sợ đó mà tôi
chưa bao giờ mời Anjela đến nhà mình chơi, mặc dù chúng tôi đã khá thân nhau.
Tôi viện đủ các lý do để che dấu như che dấu một khuyết tật đáng xấu hổ trên cơ
thể của chính mình. Đó là nỗi sợ những con người thuộc thế giới này nhìn thấy
sự nghèo nàn đến thảm hại của nơi tôi đang sống. Nếu nói không quá lời, nó còn
kém xa nơi chứa những dụng cụ làm vườn của gia đình này. Tôi nhớ đến cánh cửa
ọp ẹp của ngôi nhà, những bậc thang sụt lở và ẩm thấp dẫn vào hai căn buồng nhỏ
bé. Một buồng vừa làm nhà bếp, phòng ăn và một buồng để ngủ. Nhà vệ sinh ở
ngoài sân, mà vào thời tiết này chắc tuyết đã chất thành đống cao xung quanh. Tôi
cảm thấy khuôn mặt mình nóng bừng vì xấu hổ vì chưa nghĩ ra kế thoái thác.

– Đúng đấy! – Aunjela nằm ườn ra chiếc ghế xa-lông bọc da
đen ngay sát cạnh chiếc lò sưởi kiểu Hy Lạp đang cháy đỏ, đầu gối lên một con
gấu nhồi bông to tướng. – Mình hôm nay nhức đầu quá, chẳng muốn học hành gì cả,
nghỉ sớm thôi.

– Cháu tự đi về được mà – tôi cố chống chế, trong đầu mường
tượng ra thái độ của ông Kovalenko sẽ thay đổi ra sao khi đến nhà tôi. Tôi đã
một lần tình cờ nghe lỏm được ông nói với bà vợ vừa già vừa xấu của ông ở trong
bếp sau khi trở về từ một chuyến viếng thăm nhà tế bần của thành phố: “Tôi chắc
không ăn được cơm mất vì buồn nôn, cũng chỉ vì cái ghế ông nghị tôi mới phải
nhắm mắt nhắm mũi ôm hôn cái bà già hôi hám đó cho bọn phóng viên nó chụp ảnh,
ghi hình”.

Đứng trên bậc thềm nhà, tôi một tay giữ hộp đàn, một tay giữ
chặt cổ áo vì gió thổi lạnh cả người. Những bông tuyết quất vào mặt buốt như
kim châm. Bầu trời tối sẫm lại. Mấy ngọn đèn ở ngoài cổng trở nên leo lét, lúc
ẩn lúc hiện trong vòng xoáy của tuyết và gió. Ngay lúc đó, từ phía nhà xe có
tiếng động cơ rồ lên và hai ngọn đèn pha màu vàng nhạt dài loằng ngoằng trong
khu sân rộng, hắt bóng những cây thông phủ đầy tuyết lên bức tường hàng rào đối
diện. Tôi chưa kịp bước xuống mấy bậc thang trơn nhãy thì chiếc xe đã xịch đỗ
ngay sát bên cạnh. Cánh cửa bên cạnh bật mở. Tôi chẳng biết nói gì hơn là im
lặng ngồi vào xe, ngay bên cạnh người lái. Ông Kovalenko phủi đám tuyết bám
trên vai, trên mũ của tôi và bảo tôi thắt dây an toàn lại. Tôi làm theo như một
cái máy và trong đầu đang tìm cái nơi mà tôi sẽ yêu cầu ông đỗ xe ở đó để tôi
tự đi bộ vào nhà mình. Chiếc xe chậm rãi rẽ ra con đường lớn, mặt kính trước
đầy các vết bùn đất và tuyết khiến ông phải mở thanh gạt. Một lát sau, tôi cũng
cảm thấy không đến mức phải lo lắng đến như vậy. Trong suốt thời gian tôi giúp
con ông học đàn, ông luôn tỏ ra trìu mến và ân cần đối với tôi. Đêm đầu tiên
sau khi chôn cất mẹ Vera, ông đã bảo tôi ngủ lại với Anjela. Cả gia đình ông
đối với tôi như con cái trong nhà, song về phía tôi vẫn không thoát khỏi đuợc
mặc cảm về vị trí xã hội và nguồn gốc xuất thân của mình. Có lẽ, người luôn
canh chừng các chuẩn mực và ranh giới giữa tôi và gia đình ông là vợ ông. Bằng
những ánh mắt, cử chỉ và những câu chuyện bóng gió, bà ta như muốn bảo rằng: cô
và chúng tôi là hai thế giới khác. Tôi cảm thấy ông Kovalenko rất sợ bà vợ già
của mình. Điều này ảnh hưởng đến cô con gái, đi đâu, làm gì chỉ cần hỏi xin
phép bà mẹ. “Mẹ bảo thế, mẹ đã cho phép, mẹ không đồng y.” là những câu nói cửa
miệng của hai bố con. Lúc đó, tôi chưa hiểu được nguyên nhân sâu xa của cung
cách đối xử như vậy, nhưng sau này, chẳng phải ai khác mà chính ông Kovalenko
đã thổ lộ hết với tôi, chẳng khác nào xưng tội trước Chúa.

– Cho cháu xuống chỗ này, từ đây cháu tự đi bộ vào được mà.

Chiếc xe phanh két lại sát vỉa hè. Tôi cảm ơn và đẩy cửa
bước ra.

Con ngõ nhỏ bị tuyết phủ trắng xóa khiến trời tối mà vẫn
sáng nhờ nhờ. Một chiếc xe ngựa thồ ì ạch đi ngược trở lại. Đi được mấy bước,
tôi cắm đầu cắm cổ chạy vì những ngọn gió buốt căm căm như kim châm vào mặt.
Đến trước cổng nhà, tôi để hộp đàn dựa vào cánh cửa và loay hoay tra chìa khóa
vào ổ. Có thể ổ khóa bị gỉ hơn nữa lại bị băng đóng nên mãi tôi vẫn chưa mở
được. Hai tay đã bắt đầu lạnh cóng, nhưng lưng lại nóng toát mồ hôi.

– Để chú giúp một tay cho nào!

Tôi giật bắn mình quay đầu lại thì ông Kovalenko đã bước đến
ngay sát sau lưng.

– Chú… chú chưa về ạ? – tôi lí nhí hỏi, mặt nóng bừng vì
đột ngột rơi vào một tình huống mình không hề lường trước.

– Vị khách không mời còn tệ hơn cả thằng giặc Tarta.

Vừa nói, ông vừa tự tiện cầm lấy chiếc chìa khóa trong tay
tôi và tra vào ổ. Tất nhiên là cửa mở ra ngay và ông nhấc hộp đàn lên:

– Chú chờ ở cháu một lời mời – ông nói và nhìn thẳng vào mắt
tôi. Chẳng phải khó khăn lắm mới nhận ra điều gì ẩn chứa trong cái nhìn của
ông. Tôi cảm thấy ớn lạnh sống lưng và hai chân như không còn tự chủ được nữa.

Cả hai cứ đứng im lặng như vậy có đến một phút. Cuối cùng ,
khó khăn lắm tôi mới thốt ra được mấy câu ấp úng, phần vì lạnh phần vị sợ.

– Chú vào đi!

Cánh cửa sau lưng chúng tôi đóng sập lại. Tôi thấy sởn gai
ốc vì tiếng rít của ổ khóa bị gỉ. Xung quanh yên ắng, thấp thoáng xa xa có ánh
đèn hắt ra từ cửa sổ của nhà hàng xóm. Đâu đó vọng lại tiếng nhạc rậm rịch. Một
tiếng chó sủa vu vơ chới với trong tiếng gió rít u u trên ống thông hơi của lò
sưởi.

Khi chỉ có hai người trong nhà, một đàn ông và một cô gái
thì mọi rào cản xã hội không còn ý nghĩa gì nữa. Mọi ranh giới mà con người tự
nghĩ ra để suy tôn bản thân như chức vụ, quyền lực, tiền tài… đều rơi tuột
xuống. Đứng trước mặt tôi, ông Kavalenko trở nên luống cuống, nói năng ấp úng.
Ông giúp tôi cởi bỏ chiếc áo khoác lông nặng trịch và hôn lên bàn tay còn lạnh
cóng của tôi. Ông quỳ xuống dưới sàn nhà để giúp tôi tháo đôi giày đông và hôn
lên bàn chân tôi. Có lẽ ông cũng chẳng để ý tới sự tồi tàn của đồ đạc trong
ngôi nhà như tôi vẫn lo ngại.

Vũ Tuấn Hoàng

»Liên quan
Bị vứt vào cõi đời (kỳ 22)

Thứ Bảy, 18 Tháng Tư 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 21)

Thứ Sáu, 10 Tháng Tư 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 20 )

Thứ Năm, 26 Tháng Ba 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 19 )

Thứ Hai, 16 Tháng Ba 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 18)

Thứ Bảy, 28 Tháng Hai 2009

»Cùng chủ đề