(DN.ODESA) – … Lan Hương quay ngoắt lại vì bất ngờ. Gương mặt chị thoáng chút ngỡ ngàng, mắt chị hơi nheo nheo lại như thể bị chói nắng. Chị chuyển chiếc túi xách từ tay này sang tay kia.

-Chị không nhận ra tôi sao? Chả nhẽ tôi đã thay đổi nhiều đến như vậy?

-Anh Vũ! – Chị thốt lên, giọng nói hơi lạc đi, thảng thốt. – Anh mới về nước hả?

-Không. Em về hẳn lâu rồi, hơn mười năm rồi.

-Mới đấy mà đã mười năm rồi. Em vào đây nghỉ phải không? Đến nhà chị chơi đi!

-Em đang chờ máy bay ra Hà Nội. Chị không thấy em đen nhẻm à? Đã nghỉ gần một tuần rồi. Nhà em và các cháu đang ở trong phòng chờ.

-Thế à, tiếc thật. Chị hiện nay ở trong Sài Gòn – nói đến đây, giọng chị hơi chùng xuống, ánh mắt lộ vẻ bối rối, nhìn tránh sang như đang ngắm nghía mấy quả bóng bay.

-Các cháu khỏe cả chứ chị?

-Thằng lớn đang học cao học ở Canada – giọng chị lại trở nên hào hứng – Cháu gái năm thứ ba trường Y khoa Sài Gòn.

Từ phía trong có tiếng chị Nhâm gọi í ới vọng ra. Tôi hấp tấp nói mấy lời tạm biệt và dúi cho chị tờ báo “Dân trí” đang cầm trên tay. “Em đang làm việc ở tờ báo này, có gì chị em mình liên hệ với nhau”. Đúng lúc đó, chị Nhâm chạy tới.

-Thế nào, người quen cũ hả? Thôi đành để dịp khác vậy, vào nhanh lên, máy bay sắp cất cánh rồi.

Tôi hối hả chạy vào. Qua cửa kính phòng chờ, thấy hai người phụ nữ còn đứng nói gì đó với nhau. Chị Nhâm nói chuyện qua điện thoại di động và cả hai đi khuất sang phía bên kia đường. Tôi chạy bộ trên đường băng bê-tông nóng bỏng, gió thổi phần phật từ phía động cơ chiếc máy bay Airbird đang gầm rú. Mấy người khách cuối cùng đang chuẩn bị bước vào khoang. Tà áo dài màu mận chín của cô chiêu đãi viên hàng không đứng trên thang bay phấp phới như cánh tay vẫy chào tạm biệt thành phố biển Nha Trang hiền hòa, mến khách.

                                                                               *    *    *

Chỉ một tuần sau, tôi đã nhận được một phong bì thư dày, gửi theo đường bưu điện có bảo đảm. Mới cầm lên, nhìn lướt qua, tôi đã biết ngay chủ nhân của bức thư. Tôi nói với ông tổng biên tập là phải đi lấy tư liệu ở Thư viện Quốc gia trên phố Tràng Thi, nhưng kỳ thực, đây là một chỗ mà tôi có thể yên tĩnh ngồi đọc mà không bị ai quấy rầy. Tôi tin chắc rằng nó không phải là một bức thư bình thường, dăm ba dòng chào hỏi xã giao lấy lệ, mà chắc chắn phải là sự bộc bạch nội tâm của một con người, một số phận nhỏ nhoi bị chìm lấp trong muôn vàn số phận phù du của kiếp trần gian.

“Việc tình cờ gặp lại anh, tôi xem như là một định mệnh. Bởi vì ngoài anh ra, không một ai biết được cái bi kịch sâu kín của cuộc đời tôi. Tôi chỉ định ở lại Nha Trang một ngày, song để có thời gian viết lá thư này, tôi quyết định nán lại thêm cho đến khi viết xong. Chắc chị Nhâm cũng đã cho anh biết về sự ra đi của chồng tôi. Tôi viết lá thư này không phải để thanh minh với anh, cũng không phải để anh rủ lòng thương đến một người đàn bà bất hạnh bị chồng ruồng bỏ. Thời gian mười năm qua đã làm tốt công việc của mình. Hạnh phúc của tôi bây giờ là được trông thấy con cái trưởng thành. Tôi sống cũng vì chúng nó.

Tôi mong rằng, sau khi đọc xong lá thư này, anh hãy đốt nó đi. Song, có lẽ đấy chỉ là ý muốn đơn phương của tôi mà thôi. Tôi biết các anh, những người viết báo viết văn vẫn thường sử dụng các chất liệu của đời sống xung quanh mình để xây dựng nhân vật, cốt truyện cho các tác phẩm của mình. Đối với các anh thì chẳng có cuộc đời nào là đáng bỏ đi cả, dù đó là hạnh phúc hay bất hạnh, thậm chí là tội lỗi. Nếu anh có làm như vậy thì tôi chỉ yêu cầu anh một việc: nên thay tên đổi họ của tôi và những người có liên quan. Tôi viết lá thư này cho anh cũng xem như là một hành động ăn năn sám hối, hay nói theo ngôn ngữ văn chương là sự dâng hiến cho nghệ thuật, dù ở dưới dạng nguyên liệu thô sơ.

Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo thuộc tỉnh Nghệ An. Bố mẹ tôi có ba người con gái, tôi thứ ba. Trong làng, bố tôi cảm thấy mình yếm thế vì đẻ toàn con gái. Ngay từ khi còn nhỏ, một ông thầy tướng trong làng nói với bố mẹ tôi rằng, trong ba cô con gái thì chỉ có tôi là khá hơn cả, bố mẹ được nhờ nhưng cuộc sống gia đình vất vả. Ngẫm đi ngẫm lại thấy ông thầy tướng mắt toét nói thế mà đúng. Con người ta có số cả rồi, không chạy đi đâu được. Bố tôi là thương binh cụt một chân thời chống Mỹ. Thỉnh thoảng, cụ vẫn về thăm lại Khe Sanh và nói đùa là: đi tìm lại chiếc chân trái của mình. Người dân quê tôi rất hóm hỉnh, trào lộng ngay cả khi cuộc sống cùng cực nhất.

Một sự việc xảy ra trong gia đình khiến tôi suy nghĩ rất nhiều và nó ảnh hưởng đến hành động của tôi sau này. Chị gái tôi là thanh niên xung phong, mãi đến năm 26 tuổi vẫn chưa có chồng. Hồi đó, vào tuổi ấy mà chưa xây dựng gia đình thì coi như ế và là một nỗi nhục cho cả gia đình, họ mạc. Thế nhưng đùng một cái, chị có mang. Tôi nhớ hôm ấy đi học về, vừa đến đầu ngõ đã nghe thấy tiếng bố tôi la hét trong sân, tiếng bà con xóm giềng chạy rầm rập, trẻ con gọi nhau í ới. Bước vào cổng nhà, một cảnh tượng khó quên bày ra chiếc mắt: chị tôi bị trói giật cánh khủyu vào gốc cây cau, đầu bị cạo trọc. Bố tôi một tay chống nạng, một tay cầm chiếc roi mây dài, thỉnh thoảng lại vung lên quất vun vút trong không khí. Bố tôi đang tra hỏi ai là bố đứa bé trong bụng. Tôi nấp ở sau gốc cây na nhìn và nhận thấy một điều: bố tôi mồm thì mắng chửi chị sa sả, nhưng hai hàng nước mắt ông chảy quanh. Những ngọn roi ông vung lên, quật xuống nghe rất ghê nhưng chủ yếu quất vào thân cây cau. Tôi bỗng hiểu ra một điều, bố đang diễn một vở kịch với hàng xóm láng giềng. Đêm hôm đó, tôi nghe lỏm thấy bố mẹ tôi bàn với nhau trong buồng là đưa chị tôi tới nhà của một người bà con xa ở Quảng Bình để sinh nở, chứ còn để ở nhà thì khó mà sống được với miệng lưỡi cay độc của thiên hạ. Bố tôi là một quân nhân lâu năm, trông bề ngoài khô khan ít nói, thế mà đêm hôm đó, ông khóc thành tiếng như một đứa trẻ. Ký ức này thường xuyên trở lại với tôi, nhất là vào những đêm đông băng giá trong một căn buồng nhỏ trên tầng chín của khu ký túc xá liên hợp dệt may Vôrosilốp tại tỉnh L. thuộc nước cộng hòa Ucraina năm năm sau đó. Tôi nhớ mãi cái đêm biểu diễn văn nghệ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Khu liện hợp. Các nữ công nhân Việt Nam đóng góp tiết mục múa sạp và múa nón. Mặc dù không nhìn nhưng tôi vẫn cảm nhận được ánh mắt khác thường của anh chàng nhạc công điển trai tóc xõa ngang vai chơi ghi-ta dán lên người tôi. Có lẽ, đây là lần đầu tiên trong đời có một người đàn ông nhìn tôi một cách đắm đuối và đa tình như vậy. Trong đáy sâu tâm hồn tôi, một cái gì đó chuyển động khiến người sởn da gà, mặt nóng bừng, các ngón tay lạnh ngắt. Trong trang phục dân tộc, tôi cảm thấy mình đẹp nổi bật và gây nên nhiều tiếng xì xào bàn tán ở mấy hàng ghế đầu. Sau tiết mục của chúng tôi là đến một vở kịch tự biên tự diễn về đề tài tiết kiệm. Tôi đang còn đứng ở gần cửa sau cánh gà thì chợt cảm thấy ai đó bóp nhẹ vào tay mình và một giọng nhẹ nhàng, ấm áp vang lên sát bên tai: “Tôi có thể tiễn cô về được không?”.

Quay lại, tôi nhận ra chàng trai chơi ghi-ta. Ánh sáng từ sân khấu hắt ra khiến nửa người anh rực rỡ trong ánh đèn, nửa kia lại chìm trong bóng tối của màn đêm bên ngoài đã buông xuống từ lâu rồi. Từ trước tới giờ, chưa có ai cư xử với tôi một cách lịch sự và hào hoa như vậy. Từ người anh tỏa ra mùi nước hoa đàn ông thơm dìu dịu hết sức quyến rũ. Mọi phản ứng của tôi hầu như bị tê liệt. Bất chợt có tiếng mấy đứa bạn í ới gọi tôi về. Tôi như giật mình choàng tỉnh, rụt vội tay lại và vội vã chạy lại phía các bạn. Tối hôm đó, tôi không tài nào chợp mắt được, cứ trở mình luôn trên chiếc giường lò xo. Gương mặt, đôi mắt và nụ cười phô hàm răng trắng đều của chàng nhạc công cứ lởn vởn trước mắt. Chiếc kim đồng hồ hình vệ tinh màu xanh bay không biết bao nhiêu vòng mà mắt tôi vẫn ráo hoảnh. Cô bạn gái cùng phòng trong mơ nói cười lảm nhảm thật vô tư. Sáng ra đi làm, nhìn trong gương thấy hai mắt thâm quầng, nhưng trong lòng lại rất vui như có ngọn lửa đang nhảy múa. Lúc đi ăn cơm trưa về, tôi thấy một bông hoa hồng để ngay trên bàn máy khâu. Tôi lặng người đi và hiểu ai đã đặt lên đây trong lúc cả phân xưởng tắt đèn nghỉ ăn trưa. Những quan tâm nho nhỏ đó trở nên thường xuyên hơn và đến một lúc nào đó, tôi chợt hiểu rằng tôi nóng lòng đến chỗ làm chỉ để được nhìn thấy anh. Ngày nghỉ đối với tôi thật ảm đạm và dài lê thê. Tôi rất tích cực học tiếng Nga và đã có được những tiến bộ khiến cô giáo dạy Nga văn đề nghị nhà máy khen thưởng. Mùa thu vàng đầu tiên khiến tôi bàng hoàng vì vẻ đẹp mê hồn như trong một giấc mơ. Và, tôi đã nhận lời mời đi xem phim với anh. Trên hàng ghế cuối cùng của rạp, hai chúng tôi đã không cưỡng lại được một nụ hôn ngây ngất. Nụ hôn đầu tiên và có lẽ là nồng nàn nhất mà tôi còn nhớ được. Bằng linh cảm, tôi hiểu rằng ngồi bên tôi là người đàn ông đầu tiên trong cuộc đời mình.

-Chủ nhật tuần này, em có bận không? – Anđrây hỏi.

-Em cũng chưa biết, nhưng chắc không.

-Đi ra nhà nghỉ ngoại ô của gia đình anh chơi đi, chúng ta đi hái nấm, mùa này chơi cả ngày trong rừng cũng không chán!  

Tôi hiểu rằng mình không cưỡng lại được lời mời đó, song đi cả một ngày như thế không thể giấu được đám bạn cùng nhà máy và nhất là ông đơn vị trưởng, một người đàn ông gần năm mươi, nhưng ánh mắt chẳng giấu diếm gì vẻ thèm muốn mỗi khi vào phòng ở của đám công nhân nữ trẻ. Ông ta lại có tính ích kỷ, hay chọc phá các mối tình của các nữ công nhân dưới quyền mình và ra lệnh cấm không cho thanh niên từ các thành phố khác đến chơi vào những ngày nghỉ được ngủ lại trong ký túc xá của nhà máy. Tôi nói dối là chủ nhật này đến nhà bà trưởng ca Valia chơi.

Buổi sáng sớm hôm đó, tôi vừa thức dậy, vén tấm rèm cửa sổ nhìn xuống đường đã thấy chiếc xe Moskovich màu mận chín đậu ở trước cổng lối vào, nhưng phía bên kia đường. Anđrây hé cửa xe để hút thuốc. Tôi nhanh chóng làm vệ sinh cá nhân và khoác thêm chiếc áo ấm phòng thời tiết thay đổi. Lúc khép cửa lại vẫn thấy cô bạn cùng phòng ngủ say như chết, mái tóc đen dài xõa trên chiếc gối trắng tinh. Ở dưới tầng một vắng tanh không một bóng người. Bà gác cổng ngủ gà ngủ gật trong chiếc bốt gác của mình, cuộn len chắc bà đang đan dở rơi xuống đất lăn ra gần sát chiếc bàn để thư từ sách báo. Tôi bước ra ngoài và làm bộ như không nhìn thấy chiếc xe đang đậu đó, cứ dọc vỉa hè bên phải mà đi. Đi được một lúc thì chiếc xe đuổi kịp, phanh kít lại sát bên. Anđrây mở rộng cánh cửa xe. Tôi nắm lấy bàn tay của anh đưa ra đỡ và chiếc xe rồ máy tăng tốc. Sương buổi sáng còn đọng thành từng giọt trên cửa kính, nhà cửa cây cối hai bên đường loang loáng lướt qua như trong một cuốn phim quay nhanh. Hai ánh mắt chúng tôi gặp nhau và chẳng cần sử dụng đến ngôn ngữ, cùng ngầm hiểu: cả ngày hôm nay là của riêng hai người.

  Những gì mà trước đây tôi chỉ được xem qua phim ảnh, mà cũng chỉ rất hãn hữu, về cuộc sống của một xã hội xã hội chủ nghĩa thì bây giờ đã trở thành hiện thực. Gia đình có xe ô tô riêng, có căn hộ và nhà nghỉ cuối tuần ở ngoại ô. Lúc đó, đối với tôi là thiên đường. Từ một thế giới mà miếng ăn không đủ no, áo quần không đủ mặc, tôi rơi vào một nơi mà chân giò lợn người ta cho chó ăn, thứ bảy chủ nhật người lao động chỉ nghỉ ngơi xem phim xem ca nhạc. Vào nhà ai, dù chỉ là một người thợ cả, trong nhà đều có tủ sách và chiếc đàn piano cho con cái học. Tôi vẫn ước ao được sống trong cái xã hội đó. Và, hình như cơ hội đã đến với tôi…

Chiếc xe rời đường quốc lộ lớn chạy vào một cánh rừng thông, các thân cây thẳng tắp lao vút lên bầu trời đã chan hòa ánh nắng chói chang. Con đường mòn nhỏ hẹp, gập ghềnh chạy ngoằn nghèo trong rừng, thỉnh thoảng lại gặp một căn nhà gỗ xinh xinh với một đám trẻ con ăn mặc sặc sỡ, tinh tươm đang nô đùa chạy nhảy trên bãi cỏ gần đó. Mọi người đốt lửa, nướng thịt và ca hát nhảy múa xung quanh thật vui vẻ, thanh bình.

 Anđrây đạp phanh dừng xe lại bên một ngôi nhà gỗ nhỏ, mái nhọn và quét sơn màu xanh lá cây. Qua cửa kính xe, tôi thấy lấp lóa ánh phản chiếu của một hồ nước cách đó không xa.

– Đến nơi rồi-Anđrây nói và quay sang hôn lên má tôi.

– Không khí thật trong lành – Tôi bước ra ngoài đi đi lại lại ngắm nhìn khung cảnh xung quanh. Không hiểu sao, tôi lại chạnh lòng nhớ tới làng quê tôi, nhớ dãy núi Tùng, con sông Mai, nhớ những buổi đi cắm trại, đi kiếm củi trong núi… Nước mắt tôi bỗng ứa ra vì thấy quê hương mình nghèo khổ quá, con người mình lam lũ nghèo đói quá. Khi sang đến Liên Xô, lần đầu tiên trong đời tôi mới biết sử dụng xu chiêng và cầm đến thỏi son môi.

– Vào đây cầm cho anh chiếc giỏ này đi.

Tiếng gọi của Anđrây từ trong ngôi nhà vọng ra níu tôi trở về với hiện tại. Tôi quay lại và bước lên mấy bậc thang gỗ dẫn vào trong phòng. Mùi gỗ thông thơm thơm xộc vào mũi thật dễ chịu. Anđrây đang đứng lên trên chiếc ghế con để với mấy chiếc làn treo ở phía trên sát trần nhà.

– Cái nhỏ cho em, còn cái to để anh.

Chúng tôi cầm theo hai con dao nhỏ để cắt nấm. Anđrây dắt vào thắt lưng một chiếc rìu lớn, cán gỗ trơn bóng.

– Cần lấy ít củi về làm món thịt nướng.

Hai chúng tôi đi bộ lang thang trong rừng. Thỉnh thoảng cũng gặp những người đi hái nấm như chúng tôi. Họ đều nhìn chúng tôi bằng một ánh mắt ngỡ ngàng đầy vẻ tò mò. Tôi cảm nhận được vẻ tự hào qua gương mặt của Anđrây Chính những giây phút đó, tôi mới hiểu được giá trị của sắc đẹp bản thân mình. Chính từ đó tôi cảm thấy mình tự tin và mạnh dạn hơn. Vừa đi hái nấm, Anđrây vừa kể cho tôi nghe về vở kịch “Vua Lia” của Shakespear, khi đó tôi tưởng đó là một nhà văn Nga. Anđrây đang chuẩn bị thi vào khoa biên kịch trường điện ảnh ở trên Matxcova. Anh vừa đi làm tại nhà máy vừa chuẩn bị ôn thi. Đến đoạn hoàng tử nước Pháp cầu hôn cô công chúa thứ ba, người con gái đã bị vua Lia tước hết của cải hồi môn chỉ vì dám so sánh tình yêu với cha mình quí như… muối. Chàng hoàng tử nước Pháp đã nói: Chính sắc đẹp của nàng đã là một tài sản lớn rồi. Nói đến đây, Anđrây để giỏ nấm xuống và bế tôi lên tay: “Đối với anh, em cũng là một tài sản lớn.” Những chiếc nấm trong giỏ của tôi bị đổ ra rơi xuống xung quanh chân chúng tôi. Tôi cảm giác như trong một giấc mơ. Ánh mặt trời chiếu qua các vòm cây làm tôi lóa mắt. Tôi đưa tay lên che mặt và cảm thấy hai má nóng bừng. Anđrây đặt tôi xuống lớp lá vàng dày như một tấm đệm. Mùi cỏ cây mùa thu thơm thoang thoảng, sạch sẽ. Một chú chồn hương chạy vụt qua khiến cả hai giật mình và chúng tôi không cưỡng lại được một nụ hôn ngây ngất, đượm hương vị ngai ngái của không khí mùa thu trong rừng. Trong vòng tay của anh, bản năng đàn bà trong con người tôi được đánh thức. Mọi rào cản bị xóa nhòa. Chỉ có bản thể lên tiếng. Sau đó, hai chúng tôi nằm im trên đệm lá, ngửa mặt lên trời ngắm những tia ánh sáng xuyên qua các vòm lá vàng rực. Rừng mùa thu như một cơ thể sống đang chầm chậm chuyển mình vào đông. Tiếng chim chóc cũng thưa thớt hơn. Gió cũng nhẹ hơn, chỉ khiến các cành cây khẽ lay động, run rẩy. Mãi sau, tôi ngồi dậy và thu dọn lại chỗ nấm rơi vung vãi. Khi quay trở về, chúng tôi hầu như đi trong im lặng. Giữa hai con người đã có một sự ràng buộc vô hình, ít nhất là từ phía tôi cảm thấy. Đến gần hồ nước, Anđrây hạ một thân cây khô khá lớn và kéo về để nhóm lửa trên bãi trống ngay trước ngôi nhà. Công việc này, tôi cũng không lạ gì nên chẳng mấy chốc mùi thịt nướng đã tỏa ra ngào ngạt. Anđrây vào trong xe lấy ra mấy chai rượu vang, bia và nước hoa quả. Chúng tôi kê bàn ngay ở ngoài và ăn uống ngon lành. Tình yêu khiến con người ta ăn uống ngon miệng hơn. Một con chó hoang không biết từ đâu chạy sán đến, ghếch chiếc mũi ươn ướt lên trên mặt bàn. Tôi vốn không ưa chó, nhưng không hiểu sao bỗng thấy thương thương chú chó hoang có đôi mắt buồn. Tôi dồn tất cả chỗ thịt còn lại vào bát và đặt xuống dưới đất cho nó.

– Anh nghe nói ở Việt Nam, người ta ăn cả thịt chó có đúng không?

– Không những chỉ ăn, mà còn là món khoái khẩu của nhiều người.

Anđrây nhún vai tỏ ra không hiểu nổi – Thế chẳng khác gì ăn thịt người.

Tự nhiên, có một khoảnh khắc im lặng nào đó ngăn cách giữa hai người.

Anđrây quay vào trong nhà và mang ra cây đàn ghi-ta. Anh ngồi bệt xuống ngay bậc cầu thang gỗ và cất tiếng hát. Tôi ngồi nghe anh hát, thỉnh thoảng lại ném mấy cành củi khô vào đống lửa. Nồi súp nấm đang sôi lúc búc, tỏa những sợi khói nhè nhẹ lên không trung.

– Anh sẽ vẽ em đang ngồi bên đống lửa thế kia, đúng là một bức tranh không có tiền lệ. Một thiếu nữ phương Đông ngồi giữa khung cảnh mùa thu vàng Nga. Levitan nếu có nhìn thấy cảnh này cũng phải nảy ra ý định sửa lại kiệt tác “Mùa thu vàng” nổi tiếng của mình. – Nói đến đây, anh bỏ đàn xuống và bước đến bên tôi. Anh cúi xuống hôn lên mái tóc tôi.

– Tóc em thơm mùi nấm.

Anh bế tôi lên và đưa vào trong nhà. Ở ngay bậc thang lên xuống, một chiếc lá phong vàng từ trên mái nhà theo gió trượt xuống, đảo mấy vòng trong không trung và rơi lên mặt tôi. Anđrây cúi xuống dùng môi cặp chiếc lá đó lên. Trên chiếc giường con bằng gỗ thông có trải tấm đệm lông chim mềm mại, người tôi nổi da gà khi chiếc lá kẹp trong đôi môi của Anđrây khe khẽ từ từ cọ lên toàn bộ thân thể để trần của tôi.

– Em có chiếc bớt giống hình chiếc lá này.

– Ông trời đã đánh dấu em để khỏi nhầm với người khác.

– Chúng mình sẽ lấy nhau, mọi người sẽ phải ghen tỵ vì hạnh phúc của chúng ta.

“Đừng nói trước anh…”

Vũ Tuấn Hoàng

»Liên quan
Bị vứt vào cõi đời (kỳ 22)

Thứ Bảy, 18 Tháng Tư 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 21)

Thứ Sáu, 10 Tháng Tư 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 20 )

Thứ Năm, 26 Tháng Ba 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 19 )

Thứ Hai, 16 Tháng Ba 2009

Bị vứt vào cõi đời ( kỳ 18)

Thứ Bảy, 28 Tháng Hai 2009