DoanhNghiep.Od.Ua – Ucraina là một quốc gia Đông Âu, có diện tích lãnh thổ gấp đôi Việt Nam, khoảng 60,39 vạn km2, với dân số khoảng 47 triệu người (năm 2000) – giảm 4 triệu so với khi giành được độc lập năm 1991. Thủ đô là thành phố Kiev, có 3 triệu dân. Vị trí địa lý: phía Đông và Đông bắc giáp Liên bang Nga và Belaruss; phía Tây và Tây Bắc giáp Balan, cộng hòa Slovakia và Hungary; phía Nam và Tây Nam là biển Đen và giáp Rumania, Môlđôva.

Trước đây Ucraina là lãnh địa của Nga Hoàng, từ năm 1922 là một nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết. Quốc khánh Ucraina là ngày tuyên ngôn độc lập: 24/08/1991, và đến tháng Mười Hai năm đó thì Liên bang Xô viết tan rã. Là nước cộng hòa có vai trò quan trọng của Liên Xô (cũ), Ucraina có khả năng triển khai công nghệ sản xuất vũ khí hạt nhân và phương tiện chuyển tải đầu đạn hạt nhân, nhưng Quốc hội đầu tiên của Ucraina độc lập đã ra tuyên ngôn: Ucraina là quốc gia phi hạt nhân.

Theo Hiến pháp quy định, thể chế chính trị của Ucraina là thể chế đa nguyên. Hiện nay đường lối chính trị của Ucraina là hướng tới châu Âu, và Ucraina đang là thành viên của Hội đồng châu Âu (Europian Concil), là thành viên Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OBSE).

Như nhiều người biết, về mặt kinh tế và xã hội, trước đây Ucraina và Việt Nam có điểm giống nhau – là những quốc gia có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và chính trị tập quyền. Ngày nay, hai nước đều có nền kinh tế thị trường, nhưng khác nhau là hai nước đang đi theo mô hình dân chủ chính trị khác biệt: Ucraina – mô hình thể chế chính trị đa nguyên, còn ở Việt Nam – mô hình thể chế chính trị nhất nguyên và định hướng XHCN.

Hiện nay, chính trường Ukraine đang ở vào giai đoạn hết sức phức tạp, khủng hoảng chính trị ngày càng trầm trọng và sâu sắc, thì phương án tái bầu cử Quốc hội của Ucraina vào tháng mười hai năm nay đã được nhiều đảng phái và các tổ chức chính trị chấp nhận, như là một giải pháp tình thế. Nhìn nhận cuộc bầu cử Quốc hội lần này (nếu xảy ra), nhiều ý kiến cho rằng – đây là biểu hiện sự bất lực của người đứng đầu nhà nước, cũng như bộc lộ rõ sự phân rã trong Liên minh cầm quyền Ucraina, nhưng cũng có nhiều người thì đánh giá – lần bầu cử này sẽ chỉ nhằm đạt mục đích dọn đường cho cuộc bầu cử Tổng thống vào cuối năm 2009, nhằm phân định ảnh hưởng của Tổng thống, vai trò Thủ tướng, chức năng của Quốc hội.

Trước thềm cuộc bầu cử bất thường, trong bài viết này, chúng tôi muốn so sánh hệ thống bầu cử Quốc hội của hai nước cho bạn đọc thấy được tính chất khác nhau và giống nhau của chúng, để tự rút ra cho mình thái độ đúng đắn trong khi sử dụng quyền tối cao của công dân.

Ucraina, như chúng tôi đã giới thiệu, có chế độ chính trị đa nguyên. Số lượng đảng phái chính trị đăng ký tại Bộ Tư pháp thay đổi hàng năm, và trung bình có trên 120 đảng phái chính trị trong danh sách đăng ký. Để có thể đăng ký tại Bộ Tư pháp, đảng phái chính trị phải có danh sách đảng viên đăng ký ủng hộ theo luật định là trên 100.000 người, và để có thể tham gia tranh cử Đại biểu của mình trong Quốc hội, thì đảng chính trị phải có đăng ký thành lập tại Bộ Tư pháp trước thời điểm bầu cử một năm. Từ cuộc bầu cử Quốc hội năm 2006, sau khi cải cách chính trị (đạo luật số 2222) có hiệu lực, như là điều khoản bổ sung của Hiến pháp, thì Ucraina trở thành quốc gia có thể chế chính trị Nghị viện-Tổng thống, mà theo đó, vai trò và quyền lực của Tổng thống giảm, còn vai trò và quyền lực của Thủ tướng và Quốc hội tăng lên đáng kể trong hệ thống quyền lực nhà nước, mà trong lý thuyết Nhà nước gọi là “tam quyền phân lập” (nền cộng hòa).

Cũng theo đạo luật số 2222, được Quốc hội thông qua ngay sau cách mạng Cam ngày 08/12/2004, thì kể từ 01/01/2006, Quốc hội Ucraina sẽ được bầu theo danh sách các đảng chính trị. Số lượng Đại biểu của mỗi đảng tham gia trong Quốc hội tỷ lệ với số phần trăm cử tri đã bỏ phiếu cho đảng của họ trên tổng số phiếu bầu hợp lệ của cử tri. Tổng số Đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp là 450. Trước bầu cử 90 ngày, các đảng chính trị tham gia đăng ký tranh cử đều phải nộp công khai cho Ủy ban bầu cử trung ương (UBBCTƯ) một danh sách những người được đảng đề xuất ứng viên Đại biểu Quốc hội. Danh sách này đã được xếp theo thứ tự ưu tiên, không thay đổi và được UBBCTƯ công bố công khai trên báo chí cho cử tri biết. Luật không cấm các đảng chính trị ký kết liên minh bầu cử thành khối chính trị có tư cách như một chủ thể chính trị. Việc làm này của các đảng nhằm thu hút cử tri để tạo sức mạnh trong qúa trình tranh cử, tuy nhiên phải đăng ký với UBBCTƯ đúng theo hạn định. Kết quả bầu cử được tính theo số lượng cử tri ủng hộ từng đảng chính trị (hoặc khối liên minh chính trị) và được UBBCTƯ công bố công khai. Sau khi Tòa Hiến pháp tuyên bố kết quả bầu cử là hợp hiến, thì UBBCTƯ căn cứ theo danh sách và tỷ lệ phần trăm phiếu bầu của cử tri cho mỗi đảng trúng cử, mà công khai số lượng Đại biểu và tên tuổi Đại biểu Quốc hội của mỗi đảng, cấp chứng chỉ Đại biểu Quốc hội cho từng người và công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Những đảng chính trị không đạt được ủng hộ của cử tri trên 3% so với số đã tham gia bỏ phiếu hợp lệ, thì theo luật định, là không vượt qua ngưỡng tối thiểu trúng cử, nghĩa là đảng này sẽ không có một đại diện nào tham gia Quốc hội trong nhiệm kỳ đó. Cuộc bầu cử Quốc hội năm 2006 có 47 đảng chính trị tham gia nhưng chỉ có 5 đảng vượt qua ngưỡng 3%.

Theo luật định, đảng chính trị nào (hoặc khối liên minh chính trị) có 50% +1 phiếu bầu của cử tri (phái đa số) thì được phép thành lập chính phủ hành pháp. Nếu không một đảng hoặc khối chính trị nào chiếm đa số ghế, thì trong thời hạn 30 ngày kể từ khi UBBCTƯ công khai kết quả bầu cử, các đảng phái chính trị trúng cử phải kịp thời ký kết thỏa thuận liên minh để thành lập Nhóm đa số làm cơ sở thành lập chính phủ, bao gồm những thành viên do khối liên minh đó lựa chọn.

Ủy ban bầu cử trung ương có các Ủy ban bầu cử địa phương, là những cơ quan chịu trách nhiệm về tổ chức bầu cử, theo dõi giám sát các đơn vị bầu cử tại các địa bàn cư dân. Trong các Ủy ban bầu cử địa phương đều có đại diện các đảng chính trị và khối chính trị tham gia và làm quan sát viên theo luật định. Công tác tổ chức còn bao gồm cả việc in phiếu bầu, tuyên truyền về bầu cử để động viên cử tri tham gia, tổ chức mạng thông tin và chuyển dữ liệu, cũng như bảo đảm an ninh dữ liệu bầu cử. Chính quyền hành pháp chịu trách nhiệm về địa điểm, phương tiện và an ninh khu vực bầu cử. Ủy ban bầu cử trung ương sử dụng ngân sách bầu cử theo luật định và công khai. Một cuộc bầu cử ở Ukraina tốn kém khoảng 100 triệu USD của ngân sách. Các đảng chính trị, ngoài phần tài chính do ngân sách cấp cho để tổ chức và tuyên truyền bầu cử, còn có thể tự đầu tư tài chính từ ngân sách của mình, nhưng phải công khai thông qua một tài khoản bầu cử để UBBCTU kiểm soát theo dõi, nhằm mục đích không cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nước ngoài nào có thể cấp nguồn tài trợ trái phép. Mọi ấn phẩm tuyên truyền đều phải ghi rõ số lượng bản in và nơi in .v.v. Mọi chi phí tranh cử đều phải được công khai.

Chúng tôi không đưa ra đây Luật bầu cử Quốc hội của Việt Nam với lý do là bạn đọc đã biết. Do đó chúng tôi chỉ đưa ra một số kết luận so sánh hệ thống luật bầu cử của hai nước, lấy từ kết quả nghiên cứu của tác giả tại Học viện Luật Odessa, tóm tắt như sau:

– Luật pháp về bầu cử của Việt Nam ổn định hơn, ít thay đổi, trong khi luật bầu cử của Ucraina trong vòng 15 năm trở lại đây thay đổi ba lần. Luật bầu cử của Việt Nam không thay đổi từ năm 1997.

– Luật bầu cử của Ucraina hiện nay quy định bầu cử theo đảng phái chính trị và tính theo tỷ lệ thuận với số phiếu ủng hộ cho từng đảng chính trị, còn ở Việt Nam bầu cử theo đại diện lãnh thổ – mỗi khu vực bầu cử có một hay một số đại biểu do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định dựa vào lượng dân cư của khu vực lãnh thổ (ngày 20/05/2007, đã diễn ra bầu cử Quốc hội khoá 12 trên cả nước, với 182 đơn vị bầu cử, bầu ra 500 Đại biểu).

– Hệ thống tổ chức bầu cử của Ucraina đơn giản hơn, còn ở Việt Nam, hệ thống tổ chức có nhiều tầng nấc (5 cấp) và ban bầu cử cấp dưới phụ thuộc ban bầu cử cấp trên.

– Chủ thể tranh cử ở Ucraina là các đảng chính trị hoặc khối liên minh chính trị, còn ở Việt Nam thì thành phần chủ thể tranh cử phức tạp hơn. Quá trình hiệp thương chính trị về thành phần đại diện các tổ chức chính trị-xã hội, tôn giáo, dân tộc, giới tính… diễn ra phức tạp, chưa kể đến các đối tượng đăng ký tự do.

– Chi phí trong qúa trình vận động tranh cử ở Ucraina do nhà nước cùng các đảng chính trị chịu, còn ở Việt Nam chỉ do ngân sách nhà nước chu cấp.

– Quá trình bỏ phiếu và kiểm phiếu ở hai nước như nhau, nhưng xác định kết quả bầu cử lại khác nhau do nguyên tắc bầu cử khác nhau.

– Ở Ucraina, khi một Đại biểu Quốc hội vì lý do nào đó (hợp hiến) không còn là Đại biểu Quốc hội nữa (bị phế truất, bị chết trước khi mãn nhiệm v.v), thì người kế tiếp trong danh sách của đảng chính trị sẽ thay thế mà không cần phải bầu lại; còn ở Việt Nam, khi một Đại biểu Quốc hội chấm dứt thẩm quyền, thì sẽ tổ chức bầu lại tại khu vực ông ta đại diện.

Hệ thống bầu cử của hai nước có nhiều điểm khác nhau, do có sự khác nhau của hệ thống chính trị. Trong hệ thống luật pháp của Ucraina nói chung, và luật bầu cử nói riêng có nhiều điểm tương đồng với luật pháp quốc tế. Lý do chính: Ucraina là thành viên của Nghị viện châu Âu.

Nhìn chung, các cuộc bầu cử cơ quan đại diện cao nhất của Ucraina đã đạt được kết qủa, tuy nhiên, theo nhận xét của các nhà chuyên môn, thực tiễn bầu cử tại Ucraina trong kỳ bầu cử Tổng thống (2004) và bầu cử Quốc hội (2006) gần đây, cho thấy hệ thống bầu cử này có nhiều khiếm khuyết. Trước hết, phải nói đến việc nhiều đảng phái chính trị sử dụng các chiêu bài lừa bịp cử tri. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đưa thông tin sai lệch trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng các loại thủ đoạn (gọi là PR-texnology) chỉ nhằm thu hút cử tri, mà không ai kiểm soát nổi. Với việc sử dụng các chiêu PR (Press-Releas), không thể biết chắc đảng nào trong số 47 đảng chính trị tranh cử là nói thật. Riêng việc nhớ tên đảng phái đã là khó khăn cho cử tri. Điểm khiếm khuyết thứ hai là nhiều chủ thể tranh cử đã dùng tiền bạc mua chuộc, kể cả nguồn tài chính từ nước ngoài làm ảnh hưởng đến an ninh Quốc gia. Khiếm khuyết thứ ba là, vì lợi ích cá nhân mà các thủ lĩnh chính trị sau khi trúng cử không thực hiện những cam kết với dân chúng trong quá trình tuyên truyền tranh cử v.v.

Những khiếm khuyết kể trên đã làm cho Ucraina mất ổn định xã hội và chính trị suốt từ năm 2004 tới nay. Các điều tra xã hội học cho thấy người dân không còn tin tưởng vào các đảng chính trị và các thủ lĩnh của họ. Uy tín của Tổng thống hiện nay cũng giảm còn lại 7-8% do không thực hiện những lời hứa của mình khi tranh cử. Xã hội Ucraina bị chia rẽ trầm trọng do các cuộc bầu cử gây ra và là nguyên nhân có thể dẫn đến tan vỡ nhà nước, nếu các thủ lĩnh không dàn xếp được về chính trị.

Vâng, mọi người, không chỉ những thế hệ lưu học sinh, nghiên cứu sinh đã từng học tập nhiều năm ở Ucraina, những thế hệ người Việt đã và đang công tác, làm ăn sinh sống ở Ucraina, mà còn nhiều người Việt Nam khác; đều có thể cảm nhận được tấm lòng nhân hậu của người dân địa phương, đều biết về đội bóng Dinamô-Kiev lừng danh những năm 80 của thế kỷ trước, biết đến những vùng nghỉ mát thanh bình, thơ mộng ở Krim, Odessa, biết đến những kỳ tích của dân tộc này trong công cuộc nghiên cứu-sản xuất ở những nghành khoa học-công nghiệp mũi nhọn như chế tạo máy, khai khoáng, công nghiệp quốc phòng .v.v; mong muốn cho đất nước này ngày càng ổn định về chính trị, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao – tương ứng với những gì mà họ hoàn toàn có thể, và có quyền đạt được.

Chúng tôi thiết nghĩ, hình ảnh thể chế chính trị đa nguyên đang hỗn loạn và kìm hãm phát triển đất nước ở một vài quốc gia Đông Âu, là tấm gương thực tế nhất về chính trị và xã hội cho những người Việt đang kêu gọi đa nguyên ở Việt Nam. Điều này nếu xảy ra sẽ tạo điều kiện cho các thế lực tài chính nước ngoài có cơ hội tham gia và khống chế nền chính trị Việt Nam, tạo ra nguy cơ mất độc lập, chủ quyền dân tộc, dẫn tới nguy cơ đổ vỡ nhà nước bằng nội chiến. Những kẻ phiêu lưu chính trị không chịu thừa nhận chân lý rằng, mỗi dân tộc đều có đặc điểm văn hóa và truyền thống riêng, trình độ tiếp thu riêng những giá trị khác nhau của nền văn minh. Đặc điểm địa chính trị và địa kinh tế, cũng như những đặc thù lịch sử là cơ sở để nhân dân Việt Nam lựa chọn con đường phát triển phù hợp với thuộc tính dân tộc và hoàn cảnh lịch sử – là sự lựa chọn đúng đắn nhất để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội cho phát triển bền vững.

Đất nước còn cần phải cải cách và đang cải cách, và chúng ta nhất định sẽ tìm ra cho mình con đường phát triển phù hợp cho dân tộc Việt Nam. Mọi sự bắt chước nước khác, rập khuôn mô hình trong khoa học chính trị, đều phản khoa học và do đó sẽ có hại cho dân tộc.

Odessa 29/09/08

Trung Kiên