Chi 1 tỷ USD kích cầu đầu tư và tiêu dùng là một phần trong gói 5 giải pháp tiếp theo của Chính phủ Việt Nam nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng, trong bối cảnh nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới lâm vào suy thoái. Tại sao việc kích cầu lại đóng vai trò quan trọng đến như vậy?

Quy luật cung cầu cho thấy, thông qua sự điều chỉnh của thị trường, một mức giá thị trường và một lượng giao dịch hàng hóa cân bằng sẽ được xác định. Theo đó, dù cho thị trường vận động theo sự điều chỉnh Mashall (điều chỉnh lượng giao dịch) hay điều chỉnh Walras (điều chỉnh giá cả) thì đều có thể hiểu rằng cơ chế tự điều tiết đã giữ cho thị trường cân bằng ở mức lượng cung đúng bằng lượng cầu. Điều gì sẽ xảy ra khi cơ chế tự vận động của thị trường không tự giữ nổi thăng bằng?


Ảm đạm



Từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ, thế giới giờ đây đang rơi vào một giai đoạn khó khăn chưa từng thấy khi lần lượt các nền kinh tế hàng đầu đều tuyên bố rơi vào suy thoái, bất chấp những biện pháp đối phó khẩn cấp. Hàng loạt ngân hàng phá sản hoặc lâm nguy, thị trường chứng khoán tụt dốc, sản lượng công nghiệp sụt giảm cao nhất trong vòng hơn 60 năm, doanh số bán lẻ giảm kỷ lục trong 16 năm… là những gì người ta thường nghe thấy khi nói đến nền kinh tế đầu tàu của hành tinh vừa chính thức tuyên bố rơi vào suy thoái.

GDP của nền kinh tế thứ hai thế giới – Nhật Bản cũng đã suy giảm 2 quý liên tiếp, giảm nhanh chưa từng thấy từ 7 năm qua, dự báo tình hình cũng không mấy khả quan trong giai đoạn tới. Chỉ số Nikkei giảm ngay sau khi tin này được phát đi, đánh dấu mức giảm 1/3 giá trị kể từ đầu tháng 10 đến nay. Nhu cầu của thị trường nước ngoài và nhu cầu nội địa đối với hàng hóa Nhật Bản cũng đang trong tình trạng ảm đạm (chi tiêu tiêu dùng giảm 3,8% trong tháng 10), đặc biệt đối với các sản phẩm ô tô, lượng xe bán ra đã giảm 30% so với năm ngoái và sản lượng công nghiệp tiếp tục giảm 6,4% trong tháng 11… Đây là nguyên nhân khiến các công ty giảm đầu tư vào việc xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị mới, vốn được xem là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo định nghĩa mang tính kỹ thuật, một nền kinh tế bị coi là suy thoái khi tăng trưởng âm hai quý liên tiếp. Cũng giống như với Nhật, tại 15 nước EU, tăng trưởng kinh tế đã ở mức – 0,2% trong quý III, sau khi đã xuống dốc với tốc độ tương tự trong quý II. Tin này là đòn “trời giáng” với giới đầu tư sau 9 năm thành lập khu vực đồng tiền chung. Các chuyên gia dự báo giá cả sẽ tiếp tục giảm trong những tháng tới và rất có thể Ngân hàng Trung ương châu Âu phải mạnh tay cắt giảm lãi suất để hỗ trợ kinh tế.

Nền kinh tế được kỳ vọng nhất là Trung Quốc cũng vừa phải đưa ra cảnh báo, đang mất dần lợi thế cạnh tranh trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ngoài việc phải hạ thấp mức tăng trưởng trong năm sau (xuống 7,5% – mức thấp nhất trong vòng một thập kỷ qua), Chính phủ cũng vừa phải chi thêm 460 tỷ Euro để kích thích tiêu dùng, đủ phản ánh sự suy giảm trong nhu cầu toàn cầu.

Trong lúc danh mục hàng hóa tồn kho ngày càng dài hơn, nhiều chuyên gia kinh tế đã lên tiếng cảnh báo rằng, nếu các công ty không tìm cách đẩy nhanh số hàng sản xuất ra thì nền kinh tế sẽ nguy to. Sức bán ra phải nhiều gấp ba lần mức tiêu xài của người dân thì mới mong thoát khỏi hiểm họa suy thoái. Nhưng rồi những tuyên bố chính thức rơi vào suy thoái phát đi từ các nền kinh tế mạnh nhất thế giới… càng làm cho bức tranh kinh tế toàn cầu vốn đã tối lại càng xám xịt. Cuộc họp thượng đỉnh mới đây của G20 đã đưa ra một số cam kết về việc phục hồi tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, từ những cam kết này tới hiện thực là một chặng đường còn xa. Vì thế, giai đoạn trì trệ – hay ở mức độ nghiêm trọng hơn là suy thoái – của kinh tế thế giới có thể sẽ còn tiếp diễn trong một thời gian nữa.


Giảm cầu và giảm phát

Người ta đã bắt đầu nói đến giảm phát. Có ba nguyên nhân, thứ nhất, do tổng cầu sụt giảm, cụ thể là sự suy giảm mạnh của sức mua khiến người bán phải hạ giá để tìm đủ người mua. Thứ hai, do tổng cung đột nhiên tăng, và cuối cùng, giảm phát có thể đồng thời do cả hai nguyên nhân trên. Tuy nhiên, giảm phát chưa bao giờ là hệ quả của tổng cung tăng nhanh, mà nếu có thì việc tăng tổng cung thường dẫn tới sự tăng trưởng chứ không phải là suy thoái kinh tế. Như vậy, nguyên nhân chủ yếu của giảm phát là do tổng cầu sụt giảm, kéo theo suy thoái kinh tế và thất nghiệp.

Không cần phải bàn cãi gì nữa, với GDP chiếm tới 25% GDP toàn cầu, sự xuống dốc của nền kinh tế Mỹ tất yếu ảnh hưởng đến tất thảy các nền kinh tế khác. Đầu tiên là nhu cầu về xăng dầu ở nước này giảm, kéo giá dầu tụt dốc kỷ lục trong vòng gần 2 tháng qua. Ấn Độ, Trung Quốc và các nước đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, đây là những thị trường chủ lực trong công nghiệp sản xuất, hàng hoá và các loại dịch vụ. Nếu nhu cầu về hàng hoá ở khu vực này giảm, thì nhu cầu về năng lượng và tư liệu để sản xuất hàng hoá ở các nước phụ thuộc ắt phải giảm theo.

Thời kỳ giảm phát, không ai hào hứng mua bán nếu biết rằng sau đó giá của mặt hàng đó sẽ giảm. Việc hợp tác làm ăn sẽ bị gián đoạn hay ngưng trệ nếu một trong hai bên gặp khó khăn tài chính. Mỹ suy thoái, đồng USD mất giá, khiến lợi ích của các nhà xuất khẩu giảm tương đối… Các yếu tố này ngăn cản đầu tư và giao thương, dẫn đến kinh tế trì trệ. Đó là lý do, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn cầu trong năm nay dự kiến chỉ đạt 1.600 tỷ USD, giảm khoảng 10% so với mức cao kỷ lục hồi năm ngoái.

Tình hình kinh tế khó khăn khiến số lượng việc làm bị mất cũng gia tăng. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, số người thất nghiệp trên thế giới có thể tăng thêm 20 triệu tính đến cuối năm 2009. Số người mất việc ngày càng tăng khi có thêm nhiều công ty phá sản và nhiều công ty phải cắt giảm nhân sự để vượt qua khủng hoảng. Mất việc đồng nghĩa không có thu nhập để chi trả dịch vụ. Bên cạnh đó, những lo ngại về sự xấu đi của nền kinh tế và khả năng mất việc làm trong tương lai gần đã buộc người dân phải cắt giảm mạnh mẽ chi tiêu. Đây là nguyên nhân khiến thị trường ảm đạm và các hệ thống phân phối bị đóng cửa hàng loạt, kéo theo nhu cầu nhập khẩu tại các thị trường lớn đều giảm mạnh.

Người ta ví von, giảm phát là tác dụng phụ của việc sử dụng thuốc chống lạm phát quá liều, ví dụ như thắt chặt tiền tệ, tài khóa và hạn chế cầu quá mức; hay trực tiếp kiểm soát giá của một số mặt hàng. “Thuốc kháng sinh” liều cao chống lạm phát đã mang lại hiệu quả đích thực. Nhưng tác dụng phụ của liều thuốc này là tiêu dùng giảm sút, sản xuất bị đình trệ và thu hẹp, tăng trưởng kinh tế suy giảm, đời sống người dân khó khăn hơn. Nhu cầu của người dân không phải ít đi, mà chủ yếu họ phải thắt lưng buộc bụng trong điều kiện kinh tế khó khăn. Sức mua giảm, hoạt động thương mại ít nhiều bị đình trệ. Đây được coi là những dấu hiệu của một nguy cơ có tên là giảm phát.


Bài học đáng giá

Một cuộc khủng hoảng chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế của các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Hàng xuất khẩu của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt hơn, thu hút đầu tư cũng có thể giảm đi hoặc trễ cam kết, nguồn đầu tư gián tiếp chảy ngược ra bên ngoài và hiển nhiên làm mất cân đối nhiều chỉ số chủ chốt của nền kinh tế nước nhà, làm suy giảm tốc độ tăng trưởng… Nhưng nói đến những mặt tác động không tốt thì cũng cần nhìn nhận mặt thứ hai của vấn đề, đó là những tia sáng trong bóng tối mịt mùng. Trong khó khăn vẫn luôn tồn tại cơ hội nếu biết tận dụng cơ hội đó. Nhập khẩu của ta sẽ được lợi nhiều, vì những hàng hóa từ bên ngoài vào sẽ có giá cả thấp hơn trước. Giá xăng dầu giảm dẫn đến giá cả hàng hóa sẽ có xu hướng giảm theo, từ đó kích thích tiêu dùng. Tiêu dùng nhiều hơn sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế. Ngành ngân hàng từ nay sẽ vững chãi hơn vì những bài học từ sự sụp đổ của các ngân hàng lớn trên thế giới. Vượt qua được thời kì khó khăn, các doanh nghiệp trong nước sẽ được tinh lọc kỹ càng hơn, trưởng thành hơn rất nhiều khi đã có kinh nghiệm đối phó với các tình huống của thị trường.

Trong rủi có may, cuộc khủng hoảng lần này đem đến những bài học thực tiễn cho nền kinh tế Việt Nam, giúp chúng ta có thể tránh được những vết xe đổ của các nước lâm vào khủng hoảng hiện nay. Vấn đề là phải khéo xử lý để vượt qua cơn bĩ cực. Ngoài việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường xuất khẩu, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ chặt chẽ linh hoạt…, việc đẩy mạnh, kích cầu đầu tư và tiêu dùng cũng cần được chú trọng.

Thanh Trúc
theo TG&VN